GIÁO HỘI HỌC II

CHƯƠNG 14

GIÁO HỘI TÔNG TRUYỀN

Trong kinh Tin kính, chúng ta tuyên xưng: “Tôi tin kính một Hội Thánh... tông truyền .” Ðặc tính này nêu bật mối liên hệ giữa Giáo hội hiện tại và Giáo hội của các tông đồ. Liên quan đến tín điều này, có những vấn đề đặt ra khá phức tạp: Giáo hội ngày nay có phải là Giáo hội sơ khai, hay chỉ là một Giáo hội đã đổi khác đi? Ðức tin, các bí tích, các thừa tác vụ đang thấy bây giờ có phải là những điều “xa lạ” đối với Giáo hội ngày xưa, hay vẫn là những gì nằm trong cơ cấu do chính các tông đồ đã để lại? Thần học thường nêu ra ba khía cạnh của “tông truyền tính” (apostolicitas ): 1) nguồn gốc: các tông đồ là nguồn gốc của Giáo hội hiện tại; 2) giáo lý: Giáo hội bảo toàn giáo lý (đức tin) các tông đồ để lại; 3) thừa tác vụ: sứ mạng và các thừa tác vụ hiện có đều phát nguyên từ các tông đồ.

Giáo Hội Bất Khả Khuyết

Khi quả quyết Giáo hội không thể bị hủy diệt, là muốn nói lên niềm tin kiên vững vào lời hứa tất thành tất hiệu của Ðức Giêsu, là Thiên Chúa trung thành. [1]

Trong lịch sử Giáo hội, không thiếu chi những người hay những phong trào chủ trương Giáo hội của Ðức Kitô không còn là nguyên trạng, hoặc nếu có thì chỉ tồn tại ở trong giáo phái của họ. Thí dụ như phái Ðônatô hồi thế kỷ 5-6, mà thánh Augustinô đã mạnh mẽ lên tiếng chống lại; hoặc như phong trào Fratricelli (tiểu đệ: thế kỷ 14) là phái cho rằng Phúc âm đã mất, nhưng họ đã tìm thấy được ở trong Giáo hội thiêng liêng đích thực (DS 911, 915). Thời cải cách Tin lành, phái Soccinus († 1604) chủ trương là Giáo hội có thể mất đi; thật ra, có thể nói là toàn bộ phong trào Tin lành vẫn coi là Hội thánh toàn vẹn không còn nữa, mà chỉ có những tôn phái còn mang nhiều ít bản chất của Giáo hội Ðức Kitô. Thời thế kỷ 18, Hội đồng Pistoia (Ý, năm 1786) chủ trương rằng Giáo hội đã mất nhiều yếu tố căn bản của giáo lý Ðức Kitô, và đã bị đức Piô VI kết án là lạc giáo (DS 2601).

Ngoài ra, cũng có những trào lưu đi theo khuynh hướng thiên quang luận (illuminismus ) và cho rằng họ nhận được một mạc khải mới, coi Kinh  Thánh và Giáo hội như là đã lỗi thời. Thời xưa, đã có các phái Mani (Augustinô thời trẻ đã theo phái này) và Môntanô (Tertullianô về già đã nhập phái này), tự xưng là thông ngôn của Thánh Linh và đã lập một Giáo hội gọi là “thuần túy.” Thời thế kỷ 13, một số nhân vật có tiếng (như viện trưởng Joachim de Fiore († 1202), Amalric thành Paris († 1207) và đặc biệt là Phêrô Gioan Olivi († 1298), dòng Phanxicô, đã đề xuất một học thuyết cho rằng sau mạc khải của Chúa Cha (Cựu Ước), và của Chúa Con (Tân Ước), thì sẽ tới mạc khải của Thánh Linh hoặc là “Tin mừng trường cửu.” Tương tự như vậy, trong các thế kỷ 19 và 20, cũng đã có những tác giả nghĩ rằng sau Giáo hội của Phêrô (là Giáo hội công giáo , dựa vào hành vi và quyền thế) và Giáo hội của Phaolô (Tin lành , đặt nền tảng trên đức tin và tự do), thì đến thời Thánh Linh sẽ đưa dẫn tới Giáo hội của Gioan, là Giáo hội của tình yêu (giả thuyết của J.J.I. Došllinger , công giáo, † 1890).

Trong dòng lịch sử trải dài, cũng đã xuất hiện những tôn phái tự xưng là “Giáo hội mới” (nghĩa là Giáo hội khácđích thực), như phái Tái tẩy (Anabaptista : thế kỷ 16, ở Ðức), phái Quakers (thế kỷ 17, ở Anh), Mormons (thế kỷ 19, ở Hoa kỳ), và Moon (thế kỷ 20, ở Ðại Hàn); tất cả đều cho rằng Giáo hội Ðức Kitô sáng lập đã bị hư hỏng mất rồi, và họ là những người phục hồi Giáo hội ấy, hoặc thiết lập một Giáo hội mới.

— Nói Giáo hội bất khả khuyết là thần học muốn biểu đạt sự việc Giáo hội đã và sẽ mãi mãi tồn tại giữa lịch sử nhân loại, cũng như sẽ mãi mãi trung thành với sứ mạng siêu nhiên Ðức Kitô đã giao phó. [2] Ðó là điều công đồng Vaticanô I khẳng định rõ: “Vì muốn công cuộc cứu độ hằng hiện diện với nhân loại, [Ðức Kitô] Vị Mục tử muôn thuở và là Giám sự của linh hồn chúng ta, đã quyết định xây dựng Hội thánh” (DS 3050). Công đồng cũng nhất mực xác quyết là không bao giờ lại không có người kế vị thánh Phêrô trong nhiệm vụ tối thượng quyền (DS 3058). Nhờ Thánh Thần, Ðấng mà Ðức Kitô hứa là sẽ ở lại mãi mãi (Ga 14:16), Giáo hội sẽ chu toàn sứ mạng cho đến cùng, như Ðức Lêô XIII viết trong thông điệp Divinum illud munus (DS 3328). Vaticanô II cũng đã nhắc lại giáo lý này, đặc biệt là qua Hiến chế về Giáo hội: từ đoàn thể những người tin vào Ðức Giêsu,

“Thiên Chúa... đã lập thành Giáo hội, để Giáo hội trở nên bí tích hữu hình của sự hiệp nhất cứu độ cho toàn thể và cho mỗi người. Với sứ mạng phải triển phát trong khắp thế giới, Giáo hội đã đi sâu vào giữa lòng lịch sử nhân loại, cho dù đồng thời, có mang bản chất siêu việt vượt hẳn lên trên biên giới thời gian và không gian của các dân tộc. Tiến bước giữa cám dỗ và khổ đau, Giáo hội được củng cố kiên vững bởi ơn Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã hứa ban, để dẫu phải chịu yếu hèn trong thân phận xác thịt, Giáo hội vẫn sống không những không chút khiếm khuyết (non deficiat), mà còn như một hiền thê xứng đáng của Chúa mình, và không ngừng đổi mới chính mình dưới tác động của Chúa Thánh Thần cho đến ngày nhờ thánh giá mà đạt đến ánh sáng không hề tắt” (LG 9 cuối).

Do lời hứa ấy, chúng ta tin dân Chúa sẽ mãi mãi gắn bó với đức tin một cách bất khả khuyết (indefectibiliter: LG 12a). Còn về giáo phẩm , thì công đồng vững tin rằng “Chúa Thánh Thần hằng duy trì thể thức cai quản do Chúa Kitô đã thiết lập trong Giáo hội” (LG 27b). Giáo lý này thuộc nội dung đức tin của Hội thánh. [3]

— Trong Kinh Thánh, Giáo hội xuất hiện như là giai đoạn cánh chung của toàn bộ kế hoạch cứu độ, như Ðức Giêsu đã muốn ngầm chỉ qua dụ ngôn về cỏ lùng (x. Mt 13: 24-30): suốt trong thời gian lịch sử, Satan sẽ cố không ngừng gây cản trở chặn đường sứ mạng của Giáo hội cho tới lúc “mùa gặt” đến, tức là hồi thế mạt (x. Mt 13: 36-43). Ý Ðức Giêsu là Giáo hội phải bẻ bánh “cho đến khi Chúa lại đến,” và vì gắn bó với “những sự việc cuối cùng,” nên Giáo hội phải tồn tại cho đến cùng. [4] Ðức Giêsu đã khai mở “thời đại cuối cùng” và phái gửi Thánh Thần như ân huệ ban xuống cho “Ítraen cánh chung ,” v.v.; vì thế, thời gian lịch sử của Giáo hội là thời đại chung quyết trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Thư Do thái nhắc đi nhắc lại là Ðức Kitô đã chu toàn công cuộc cứu chuộc “chỉ một lần là đủ” (ephápax): [5] “Ngài đã hoàn thành việc cứu chuộc muôn đời” (Dt 9: 12), và “đã đổ máu mình ra để thiết lập giao ước muôn đời” (Dt 13: 20), giao ước mà Thánh lễ hằng không ngừng hiện tại hóa cho đến Chúa lại đến (x. 1Cr 11: 26). Căn cứ theo Tân Ước mà nghiệm xét, thì chờ đợi một giao ước khác là điều thật vô lý: “Không ai có thể đặt nền móng khác ngoài nền móng đã đặt sẵn là Ðức Giêsu Kitô” (1Cr 3: 11).

Ý của Ðức Giêsu phục sinh là muốn ở với Giáo hội “mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28: 20), và Ngài lấy toàn quyền mà hứa như vậy! Ý định và lời hứa ấy đã thành hiện thực qua sự việc Thánh Thần hằng không ngừng ở với các tín hữu (x. Ga 14: 16tt). Vì vậy, dù về phần nhân loại, Giáo hội có thể lâm nguy, song bao giờ cũng được cánh tay hùng mạnh của Thiên Chúa đỡ nâng bảo toàn để vững bước tiến tới trên đường tương lai. Không một đối phương nào – kể cả thần chết, và mọi thứ quỷ thần hay bất cứ một liên minh nào của chúng – phá hủy được Giáo hội, vì Ðức Giêsu đã hứa: “quyền môn âm phủ sẽ không thắng nổi” (Mt 16:18). [6] Hẳn là Giáo hội sẽ bị bách hại, nhưng Ðức Giêsu căn dặn là: “Ðừng sợ,” [7] vì Ngài hằng ở với Giáo hội trong thế của “người mạnh hơn” (x. Lc 11: 22). Tuy nhiên, xét về phần loài người và về mặt hiện diện cùng hiệu năng tiến phát, nhất là tại các địa phương, Giáo hội cần phải biết gẫm suy về lời hứa ấy với một lòng khiêm hạ sâu thẳm, vì trong Cựu Ước, cũng có lời hứa tương tự như thế đối với Giêrusalem (x. Is 60: 11), đối với Ðavít (x. 2Sm 7: 12-16; Tv 89: 4. 29tt), hoặc là với chức tư tế nhà Aaron (x. 1Sm 2: 30; Xh 29: 9; Ds 25: 13).

Bất hủy tính của Giáo hội phát nguyên từ sự việc Giáo hội là cơ chế bí tích cứu độ: Ðức Kitô dùng Giáo hội như khí cụ để hòa giải loài người với Chúa Cha. Chắc hẳn là trong tình trạng lữ hành, Giáo hội có thể bị đánh phá nhưng sẽ không bị đánh bại. [8] Có thể phạm tội đến độ suy đốn, nhưng sẽ không bị suy vong, sẽ hồi phục và “phải cải thiện luôn mãi” (UR 6). Là Hiền thê Ðức Kitô, Giáo hội tất được đảm bảo Ngài sẽ mãi mãi trung thành với mình cho đến cùng; là Thân thể, Giáo hội sẽ không bao giờ có thể bị tách biệt khỏi Ðầu, là Ðức Kitô: Ðầu còn – hôm qua cũng như hôm nay – tất Thân thể cũng vẫn còn nguyên. Tóm lại: Giáo hội ngày nay vẫn là Giáo hội duy nhất của các tông đồ ngày xưa, là Giáo hội tông truyền vậy.

Giáo Hội Tông Truyền

Trải dài qua các thế kỷ, tính chất tông truyền nêu rõ căn tính của Giáo hội về phương diện đức tin, phụng tự và cơ cấu tổ chức.

Ngày nay cũng như ngày xưa, thân thể Giáo hội vẫn mãi sống nhờ sinh khí siêu nhiên mà Chúa Kitô đã trao phó cho các tông đồ. Ðức tin khởi phát từ Lời Chúa, và Lời Chúa đã kết tinh trong Kinh Thánh. Nhưng Kinh Thánh lại là lời của các tông đồ, đã được Giáo hội ghi lại và gìn giữ cho đến ngày nay. Trong phụng vụ, như thánh Giustinô nói, Giáo hội đọc lại “những kỷ niệm của các tông đồ” và tuyên xưng: “Ðó là Lời Chúa.” Giáo hội gọi phụng vụ Lời Chúa trích từ Kinh Thánh là “bàn Lời” để nuôi dưỡng đức tin, tương tự như “bàn bánh” (Thánh Thể) để nuôi sống Giáo hội. Khi cần đối phó với những lạc giáo và các phái ly khai, Giáo hội triệu tập các công đồng chung để xác định và tuyêân xưng đức tin của các tông đồ. Vì thế, đức tin của cộng đồng Giáo hội bây giờ chính là đức tin mà các Giáo phụ đã biểu đạt qua các tín khoản hay các công thức tuyên tín, từ công đồng Nicêa (DS 125) cho đến kinh tin kính của Ðức Phaolô VI . [9]

Các bí tích cũng nằm trong toàn bộ của những gì các tông đồ đã truyền giao lại cho Giáo hội. Trước hết là bí tích tổng quát tức là chính Giáo hội. Nhiều nhà thần học quan niệm “bí tích tính ” của Giáo hội như là được chia sẻ và hiện diện ở trong từng bí tích cá biệt. Phúc âm minh nhiên nói đến Phép rửa (x. Mt 28:19), Thánh Thể (x. Lc 22: 19), và quyền tha tội (x. Ga 20: 23). Bí tích Thêm sức lúc đầu được quan niệm như là thành phần của Thánh tẩy; nhưng sau đó, dựa theo Cv 8: 14tt, huấn quyền đã nhận ra đó là một bí tích cá biệt do các tông đồ truyền lại, và việc ban phát được dành riêng cho thừa tác vụ giám mục (DS 785). Cả Confessio Augustana của Tin lành (năm 1530) cũng đã dựa vào đoạn Cv ấy mà chủ trương là các tông đồ đã thiết lập bí tích Thêm sức, chứ không phải chính Ðức Kitô. Dù Ðức Kitô có gián tiếp, tức là qua các tông đồ nhờ Thánh Thần, mà sáng lập bí tích này, thì cũng phải nhận đó là một nghi thức tông truyền. Bí tích Xức dầu được dự biểu tiên trưng trong hoạt động của các tông đồ mà Mc 6:13 trình thuật; rồi lại được thánh Giacôbê giới thiệu (x. Gcb 5: 14); còn truyền thống thì coi bí tích xức dầu như nghi thức các tông đồ đã truyền lại. Không ai phủ nhận nghi thức đặt tay, tức phong chức, (dù có nhận đó là bí tích hay không) đã được các tông đồ sử dụng và để lại (x. 1Tm 4: 14; 5: 22; 2Tm 1: 6). Bí tích hôn phối hằng được quan niệm như một điều thánh (x. Mc 10: 9; Ep 5: 32), và được gọi là bí tích một khi ý niệm bí tích đã thành rõ ràng.

Tông truyền tính, trước hết, là tư chất của toàn thể Giáo hội, [10] hiện thân của mầu nhiệm trung gian trong kế hoạch cứu độ: ơn cứu độ đến với loài người qua con đường lịch sử và xã hội, cũng như qua cung cách con người. Là Ðức Kitô nối dài, nhóm tông đồ lại được tiếp tục nối dài bởi nhóm kế vị mình để xây xựng Nhiệm thể và nối kết Ðức Kitô alpha với Ðức Kitô omega, tức là bảo toàn mối liên tục từ thời khai sáng cho đến hồi quang lâm.

Nhưng, nói về “tông truyền,” là thần học nghĩ ngay đến việc “kế nhiệm các tông đồ,” bởi đó là trọng tâm của vấn đề. [11]

Kế Nhiệm Các Tông Ðồ

Theo nghĩa hẹp, “kế nhiệm các tông đồ ” là sự kiện phẩm trật của Giáo hội ngày nay kế nghiệp các tông đồ trong sứ mạng Ðức Kitô đã giao phó cho. [12] Nói cách khác, thừa tác vụ trong Giáo hội bây giờ là chính thực, vì phát nguyên từ các tông đồ, nhờ Chúa Thánh Thần.

Theo nghĩa rộng, “kế nhiệm các tông đồ” chỉ về việc toàn thể Giáo hội hiện đang đảm nhận và tiếp tục sứ mạng của các tông đồ: Giáo hội hiện bảo toàn Phúc âm nguyên vẹn như các tông đồ đã để lại, hằng sản sinh và phái gửi giảng viên đi rao truyền Tin mừng. Các tông đồ là “mầm giống” của cả giáo dân lẫn giáo sĩ (AG 5a); một sứ mệnh duy nhất được nhiều nhiệm vụ thực hiện hóa (AA 2b). Các tông đồ được sai đi làm chứng nhân cho Ðức Kitô (x. Lc 24: 48); bây giờ toàn dân kitô cũng đang làm chứng và rao truyền những kỳ công Thiên Chúa (LG 10a; AG 11). Vì thế, Ðức Phaolô VI đã có thể nói: “Giáo dân cũng như giám mục đều kế vị các tông đồ.” [13] Các kitô hữu thông phần vào các chức năng tư tế, tiên tri và vương đế của Ðức Kitô, và lãnh nhận Thần Khí Ngài “là nguyên tắc quy tụ và hiệp nhất trong giáo lý của các tông đồ, trong hiệp thông, trong nghi thức bẻ bánh và trong kinh nguyện” (LG 13, x. DV 10). Ðã lãnh ơn, tất phải đảm nhận tác vụ, hệt như các tông đồ vậy. Theo Vaticanô II, khi Ðức Giêsu phái gửi các tông đồ, là chính lúc Giáo hội lãnh nhận sứ mệnh còn đang tiến hành trước mắt bây giờ (AG 5). Giáo hội là một xã hội có thứ tự trật bậc, vì thế việc kế nhiệm tông đồ được thực hiện theo bản chất phẩm trật ấy.

Các Giám Mục Kế Nhiệm Các Tông Ðồ

“Sứ mệnh thần linh đã được Chúa Kitô trao phó cho các tông đồ phải tồn tại cho đến tận thế... Vì thế, các tông đồ đã quan tâm đặt người kế vị mình trong xã hội có phẩm trật này... Thế nên, thánh công đồng dạy rằng chính Chúa đã lập các giám mục làm người kế vị các tông đồ, làm chủ chăn Giáo hội. Bởi vậy, ai nghe lời các ngài là nghe lời của chính Chúa Kitô, còn ai khinh thường các ngài là khinh thường Chúa Kitô và Ðấng phái Ngài đến” (LG 20).

Trong Giáo hội tông truyền, đoàn thể các giám mục là thành phần kế nhiệm nhóm tông đồ. Ðiểm then chốt này là ranh giới phân biệt giữa các Giáo hội “công giáo ” và các Giáo hội hay tôn phái khác, như các Giáo hội gốc tin lành chẳng hạn. Nói chung, họ chủ trương các tông đồ không có người kế vị, vì duy chỉ các ngài đã chứng kiến biến cố Kitô, đặc biệt là Ðấng Phục sinh, và đã sáng lập Giáo hội; chỉ mình họ đã được Ðức Giêsu sinh tiền tuyển gọi, và duy chỉ có họ đã lãnh nhận mạc khải chính thức; những chức năng ấy không thể truyền giao cho người khác. Có tác giả cho rằng các tông đồ có người kế vị trong thừa tác vụ rao giảng Tin mừng; nhưng, thừa tác vụ ấy không bao gồm nhiệm vụ tư tế hoặc phẩm trật thánh nào cả. [14]

Giáo hội hằng coi giáo lý này như một thường tố của đức tin cổ truyền. Công đồng Firenze nêu rõ đó là giáo lý chung của Giáo hội bên Ðông cũng như bên Tây, và công đồng Trentô đã khẳng định lại là các giám mục trong Giáo hội kế nhiệm các tông đồ (DS 1768). Chân lý này căn bản đến độ truyền thống đã không bao giờ đặt lại vấn đề. Vaticanô II đã khai triển điểm này trong chương III của Hiến chế Lumen Gentium. [15]

Thời xưa, “kế nhiệm ” là một khái niệm rất quen thuộc và thông thường. Ở Hy lạp, các trường triết học, các thể chế xã chính trị, v.v., đều biết đến ý niệm này. Cựu Ước cũng đã nói đến việc: Môsê chọn những người kế vị mình (x. Ds 27: 15tt), các thượng tế kế nhậm nhau trong từng gia đình, các thừa tác vụ được truyền lưu, v.v.; còn Ðức Giêsu nhắc đến sự việc các kinh sư ngồi trên tòa của Môsê. Vì thế, dĩ nhiên là các tông đồ đã phải nghĩ đến những người sẽ tiếp tục sứ mạng của mình. Ðức Giêsu thiết lập nhiệm vụ tông đồ và xây dựng Giáo hội trên nền móng ấy; nhưng, Giáo hội không phải là một ngôi nhà “tĩnh vật,” mà là được xây dựng với “những hòn đá sống động;” thế nên, nền móng vẫn mãi sống động cho đến cùng: Giáo hội vinh quang thời cánh chung vẫn còn có mười hai tông đồ làm nền tảng (Kh 21: 14). [16]

Trong hoạt động của các tông đồ, các nhà chú giải phân biệt hai giai đoạn: lúc đầu, vì tin Ðức Giêsu sẽ sớm trở lại, các vị đã không nghĩ nhiều đến vấn đề tổ chức cộng đoàn cho một tương lai lâu dài; nhưng khi ý thức biến cố quang lâm hãy còn xa, các ngài đã bắt đầu xếp đặt các cơ cấu cộng đoàn cho chỉnh tề hơn.

Không có việc kế nhiệm Nhóm Mười Hai hiểu theo nghĩa hẹp, tức đơn thuần theo tư thế là Nhóm Mười Hai. Con số 12 mang ý nghĩa nền móng đối với Ítraen, và do đó, mang ý nghĩa chuyển tiếp, đánh dấu bước quá độ đi dần từ Ítraen cũ qua Ítraen mới. Sau phục sinh, Matthia thay thế Giuđa để bổ túc số 12; nhưng, các điều kiện ứng viên phải hội đủ thời đầu (x. Cv 1: 15tt) không còn giống với những gì đọc thấy sau này ở nơi thân thế của một vị tông đồ (Phaolô đã không gặp mặt Ðức Giêsu sinh tiền). Cũng thế, Nhóm 12 đã có uy thế tại Giêrusalem và trong các cộng đoàn Giáo hội gốc Do thái; nhưng khi Giáo hội đón nhận lương dân, thì uy thế ấy cũng từ từ chuyển di qua “các tông đồ” khác. Vì vậy, khi Giacôbê Cả tuẫn đạo (khoảng năm 43), Nhóm 12 đã không cử người thay thế. Trong cuộc bách hại đó, Nhóm 12 đã tản mác; và từ đó, sách Công vụ không còn đề cập đến các vị nữa.

Số các tông đồ làm việc truyền giáo cho lương dân thì nhiều hơn là Nhóm Mười Hai ấy (ít là có thêm Phaolô và Barnaba). Nhiệm vụ của họ khá phức tạp. J. Colson miêu trình tóm tắt như sau: “Ngoài việc xếp đặt giáo lý (kerygmađiđakhế), [17] là phận sự cơ bản của chức vụ tông đồ với tư cách là chứng tá, tác vụ của các ngài gồm có việc chính thức giải thích Kinh Thánh cho trung thực, [18] phận vụ giáo dục và huấn luyện cho đời sống cộng đồng (x. Cv 4: 42), phận vụ rửa tội (x. Mt 28: 19) và phụng tự (x. Lc 22: 19; 1Cr 11: 24-5), rồi cuối cùng là chức vụ cai quản cộng đoàn, tổ chức, hướng dẫn, đặt định quy chế.” [19] Chức năng phức tạp ấy được chia sẻ với nhiều người.

Ðối với những người mà các ngài chia sẻ chức năng cho, các tông đồ xử như Ðức Giêsu đối với các ngài, và các thầy rabbi thường làm trong các cộng đoàn ngoài Palestina: trước hết, các vị mời gọi họ hợp tác vào trong công việc tông đồ; rồi sau đó, phái gửi họ đi và trao phó các cộng đoàn cho họ trông nom. Luca viết sách Công vụ sau khi các tông đồ đã mất (trừ ra Gioan) và nói đến vấn đề này: Phaolô bổ nhiệm những kỳ lục và trao cho họ trách nhiệm điều hành các cộng đoàn trong thời gian ngài vắng mặt (x. Cv 14: 23; 20: 17-35). [20] Trong các Thư mục vụ, tác giả đã nghĩ tới lúc vị tông đồ qua đời và thời gian sau đó của các Giáo hội. [21] Tông đồ (Phaolô) cũng đã khuyên người hợp tác với mình (Timôtêô) lo cẩn trọng bảo toàn kho tàng đức tin (x. 1Tm 4: 20) và tiếp tục truyền đạt cho những người hợp tác với mình (x. 2Tm 2: 2). Nguyên tắc và thể thức kế nhiệm được trình bày rõ rằng: Tông đồ (Phaolô) thiết lập các Giáo hội tại Êphêsô và Crêta, rồi phó thác trách nhiệm cho Timôtêo (x. 1Tm 1: 3) và Titô (x. Tt 1: 5); tông đồ đặt tay trên ứng viên (x. 1Tm 4: 14; 2Tm 1: 6) như Nhóm 12 đã làm khi lập một chức vụ mới (x. Cv 6: 6). Những “thiên thần của các Giáo hội” mà sách Khải huyền nhắc đến (x. Kh 1-3) hình như là các giám mục. Thế là chức năng điều khiển Giáo hội quả đã được truyền ủy lại cho những người kế vị.

Khoảng cuối thế kỷ thứ 1, thánh Clêmente â, giám mục Rôma viết như sau: “Các tông đồ đã giảng tin mừng bởi Chúa cho chúng ta. Ðức Giêsu Kitô bởi Thiên Chúa mà đến. Vậy, Thiên Chúa đã sai Ðức Kitô đến và Ðức Kitô đã sai các tông đồ; nghĩa là cả hai hành động phái gửi đều do ý muốn của Thiên Chúa. Các tông đồ nhậm lệnh... đi giảng đạo qua thôn quê và thành thị và, sau khi thử thách tinh thần họ, các ngài đã chọn những quả đầu mùa làm giám mục và phó tế của những ai sẽ đón nhận đức tin... Các tông đồ cũng biết... họ sẽ tranh giành nhau về bậc giám mục; vì thế các ngài đã xếp đặt trước cho thời gian sau, để một khi các ngài đã qua đời, thì sẽ có những người khác đầy kinh nghiệm kế nhiệm hầu tiếp tục thừa tác vụ của các ngài.” [22] Quả vậy, khi các tông đồ qua đời, các Giáo hội địa phương đều có những thừa tác viên có đủ thẩm quyền, tiếp tục sứ mệnh của các ngài.

Thánh Inhaxiô tử đạo là một chứng nhân ngoại hạng về các sự kiện nói trên. Trong các thư viết khoảng năm 107-110, ngài huấn thị là chỉ có một Hội thánh, và trong mỗi Giáo hội địa phương chỉ có một giám mục với quyền cai quản cộng đoàn, ngoài ra còn các kỳ mục và phó tế là những trợ tác viên của giám mục. Ngài biết rõ tình trạng tại Siri và Tiểu Á. Một vài thế hệ sau, khái niệm “kế nhiệm các tông đồ” (successio apostolica ) xuất hiện rõ hẳn với Hêgêsyppô và Irênêô : Giáo hội nhận ra và tin vững các giám mục là những người kế vị các tông đồ.

Một sự kiện chắc chắn là vào cuối thế kỷ 2, mỗi Giáo hội đều có một giám mục. Khi Clêmentê viết thư cho Giáo hội Côrintô (khoảng năm 96), cộng đoàn ấy chưa phân biệt cho rõ được giữa giám sự và các kỳ mục; nhưng 60 năm sau, Hêgêsyppô đã gặp giám mục Primô tại đó. [23] Chừng năm 185, Irênêô soạn cuốn Adversus Haereses, và trình bày giáo lý về các giám mục kế vị các tông đồ, như là giáo lý phổ biến. [24] Năm 200, Tertullianô xuất bản cuốn De praescriptione haereticorum, và lấy nguyên tắc “kế nhiệm các tông đồ” làm lý lẽ chống lại lạc giáo. [25] Trong thế kỷ 3, nguyên tắc này đã trở thành giáo lý chung của Giáo hội. Thánh Cyprianô viết: “Chúng tôi phải ra sức gìn giữ sự hiệp nhất mà qua các tông đồ, Ðức Kitô đã trao cho chúng tôi là những người kế vị các ngài.” [26] Phía Ðông phương, Firmilianô cũng viết như vậy. [27] Giám mục biểu hiện và bảo đảm sự hiệp nhất của Giáo hội. Dù coi trọng các đoàn sủng, thánh Inhaxiô cũng vẫn nhấn mạnh nhiều đến vai trò của giám mục; sở dĩ ngài làm thế là vì có những người khoe khoang về các đoàn sủng, gây chia rẽ; ngài trích dẫn Ep 4:5 “Một Thiên Chúa, một niềm tin, một phép rửa” và còn khẳng quyết thêm: “một giám mục.” Công thức này được dùng đến nhiều trong các tác phẩm của Irênêo và Cyprianô . Trong thế kỷ 4, khi hoàng đế Constantinô dự định bổ nhiệm hai giám mục cho Rôma, dân chúng mạnh mẽ phản đối, hô to rằng: “duy chỉ có một Thiên Chúa, một Ðức Kitô, một giám mục.” Tiến trình ý thức và tổ chức tại các Giáo hội đều dẫn đến thể chế “giám mục quân chủ.” Giáo hội tin rằng nếu điều đó đã xảy ra thì chính là do Chúa Quan phòng xếp đặt.

Những Nhân Tố Chủ Yếu

Việc kế nhiệm các tông đồ không chỉ là một sự kiện: sự kiện của việc liên tục kế vị một tông đồ hoặc một cộng tác viên của các tông đồ (hay một giám mục chính tòa), tại một  ngôi tòøa giám mục, trong chức năng cai quản một cộng đoàn Giáo hội; [28] nhưng hơn nữa, còn phải bao gồm cả việc bảo toàn đức tin chính thống và mối hiệp thông với Giáo hội phổ quát. Việc kế nhiệm ấy cũng không cốt tại ở sự hữu hiệu của bí tích truyền chức thánh (thần học gọi đó là “kế nhiệm cứ sự” (successio materialis): quả vậy, có kẻ lầm tưởng là việc kế nhiệm các tông đồ được “tự động” chuyển thông qua việc tấn phong vào chức giám mục. Kế nhiệm tông đồ là được trao phó và tiếp nhận sứ mệnh và nhiệm vụ cùng với đức tin và hiệp thông: đó là “kế nhiệm đích thực” (successio formalis). Ðể nói lên mối hiệp thông Giáo hội, công đồng Arles (năm 314) cũng như giáo luật ngày nay, quy định cho việc tấn phong giám mục là phải được tiến hành với sự tham dự và đồng tấn phong của ít nhất là hai giám mục khác. [29]

Việc kế nhiệm tông đồ mang tính cách bí tích, [30] và được thực hiện qua nghi thức tấn phong và đặt tay, như Hippôlytô († 236) trình tả [31] và như Cornêliô († 253) làm chứng. [32] Nhiệm vụ tông đồ không chỉ là ngồi trên tòa mà dạy, nhưng còn là lên bàn thờ mà tế lễ nữa. Uy thế của các vị là do Ðức Kitô trao cho (qua bí tích), chứ không phải là do cộng đồng. Năng lực của chức vụ các vị là do Thần Khí thông ban qua dạng đoàn sủng đặc thù.

Mục đích chủ chốt và trọng yếu của việc kế nhiệm tông đồ là bảo toàn đức tin (x. 2Tm 2: 2). Ðể nêu bật điểm này, các Giáo phụ đã đề cập đến “Huấn quyền (magisterium ) và “Ngôi tòa” (cathedra ). Thời thế kỷ thứ hai, biểu trưng duy nhất của chức giám mục là tòa giảng. [33] Giám mục có bổn phận phải trung tín với giáo lý của các tông đồ, bằng không, các tín hữu buộc lòng phải phản đối; [34] bởi lẽ, nếu tín hữu có bổn phận vâng phục các vị, thì chính là vì các vị đã được đón nhận “đoàn sủng chân lý” (charisma veritatis ). Vậy, giám mục kế vị các tông đồ trong nhiệm vụ giảng dạy, tư tế và quản trị. [35]

Việc kế nhiệm tông đồ cũng mang tập thể tính, nghĩa là không phải mỗi giám mục kế vị một tông đồ, nhưng là giám mục đoàn kế vị tông đồ đoàn. Vì thế, hiệp thông với giám mục đoàn, và đặc biệt với Ðầu của giám mục đoàn , tức với Giáo hoàng, là điều tất thiết trong Giáo hội.

Giám Mục Ðoàn

“Cũng như, theo sự ấn định của Chúa, thánh Phêrô và các Tông đồ khác làm thành một tông đồ đoàn duy nhất; thì cũng vậy, Giáo hoàng Rôma, đấng kế vị thánh Phêrô, cùng với các giám mục là những người kế vị các Tông đồ, liên kết với nhau thành một tổng thể” (LG 22a).

Ngày xưa, thần học cũng đã từng sôi nổi tranh luận về giáo thuyết “đoàn thể tính (collegialitas ) của Giáo hội, nói chung, và của phẩm trật, nói riêng. Công đồng Vaticanô II đã có dịp xác định rõ hơn về điểm giáo lý này. [36] Công đồng đã nêu ra một số nhân tố biểu hiện đặc tính ấy như sau: a) sự kiện đối chiếu một bên là nhóm tông đồ và Phêrô, với bên kia là giám mục đoàn và giáo chủ Rôma; b) mối hiệp thông giữa các giám mục với nhau trong bác ái và bình an; c) những hội nghị địa phương; d) các công đồng chung; e) nghi thức tấn phong giám mục. Lý do thần học là “đại diện tính (vicarietas ) của thừa tác vụ trong Giáo hội: trong thân thể (Giáo hội), Ðầu (Ðức Kitô) hiện diện và hoạt động qua khí cụ đại diện Ngài là phẩm trật.

Như đã thấy, Nhóm Mười Hai là một tập thể đặc thù, và Phêrô giữ một địa vị đặc biệt, sẽ được bàn tới sau. Tân Ước bao giờ cũng giới thiệu Nhóm 12 như một tập thể: cả đến khi Giuđa không còn nữa, cũng vẫn được gọi là [nhóm] “Mười Hai” (1Cr 15: 5).

Từ rất xa xưa, các giám mục hằng thông tin cho nhau để giới thiệu những giám mục mới hay những đồng nghiệp đã rơi vào lạc giáo. Các giám mục thường trao cho các giáo sĩ một “thư giới thiệu ” hoặc “thư bình an ” khi họ đi đến các Giáo hội khác. Mối hiệp thông tỏ lộ rõ nhất là ở trong các hội nghị và công đồng. Từ thế kỷ thứ 3 (tức là khi các cuộc bách hại Giáo hội thời đầu lắng ngừng), đã thấy có những cuộc các giám mục tụ hợp để giải đáp những vấn đề chung. [37] Năm 325, công đồng chung Nicêa đã ý thức là công đồng chung tiếp tục đi trên con đường công đồng Giêrusalem đã khai mở, coi đó là cuộc đại hội nghị của giám mục đoàn kế vị tông đồ đoàn. [38]

Hippôlytô thành Rôma đã có dịp trình tả về nghi thức tấn phong giám mục. Các Giáo hội khác cũng theo cùng một thể thức như thế. Thường thì tuyển viên được cộng đồng bầu cử, nhưng phải được các giám mục “láng giềng” trực tiếp hay gián tiếp qua thư tín, chuẩn y “theo thủ tục do các tông đồ xếp đặt.” [39] Người nhận chức được thâu nạp vào giám mục đoàn. Công đồng Nicêa truyền: “Giám mục được bổ nhiệm do các giám mục của giáo tỉnh. Nếu khó khăn vì đường xa hoặc vì tình cảnh cấp thiết, thì ít ra là ba giám mục phải tụ họp và, sau khi đã thu thập phiếu viết bằng thư của các vị vắng mặt, nếu thấy được thì cứ đặt tay.” [40] Thủ tục này cũng đã được công đồng Constantinốp IV (công đồng chung thứ 8) tái xác nhận: “Giám mục chỉ có thể được chọn bởi giám mục đoàn.” [41] Về mối tương quan kế nhiệm giữa tông đồ đoàn và giám mục đoàn, cũng như về mối liên hệ quyền bính giữa giáo hoàng và giám mục đoàn, Vaticanô II viết:

“Giám mục đoàn kế vị tông đồ đoàn trong tác vụ giáo huấn và chăn dắt; chính trong giám mục đoàn mà tông đồ đoàn được trường tồn. Hiệp nhất với thủ lãnh, tức giáo hoàng Rôma, và không bao giờ tách rời khỏi thủ lãnh ấy, giám mục đoàn có quyền bính trọn vẹn và tối cao trên toàn thể Giáo hội” (LG 22b).

Giám mục đoàn có tối thượng quyền trong Giáo hội; giám mục Rôma cũng vậy. Vì thế, thần học tỏ ra do dự không biết rõ là trong Giáo hội có một hay hai tối thượng quyền; xét cho chùng, tối thượng quyền chỉ có thể có một. Giám mục đoàn biểu lộ uy thế và hành sử quyền bính của mình cách long trọng trong các công đồng chung. Còn cách thông thường thì có hai dạng: thượng hội nghị giám mục (synodus episcoporum ) và hội đồng giám mục (conferentia episcopalis ). Vaticanô II giải thích: “Bởi hành động nhân danh toàn thể giám mục đoàn công giáo, nên... thượng hội nghị giám mục cũng làm dấu chỉ cho thấy rằng trong niềm thông hiệp phẩm trật, [42] tất cả các giám mục đều cùng chia xẻ nỗi lo âu của toàn thể Giáo hội” (CD 5). Còn các hội đồng giám mục thì thể hiện tinh thần tập đoàn giữa các Giáo hội địa phương. [43]

Vaticanô II đã bỏ sót một điểm khi bàn về tập đoàn tính trong Giáo hội: công đồng đã không vạch rõ vai trò của giáo dân trong tổng thể tập đoàn Giáo hội. Dù sao, cũng nên xác cho rõ là “tập đoàn tính” của Giáo hội thì khác hẳn với tất cả những gì tương tự gặp thấy trong các tập đoàn thế tục; bởi tập đoàn tính của Giáo hội mang bản chất siêu nhiên, phát sinh từ Ðức Kitô và sinh động bởi Thánh Linh.

Công Ðồng Chung

Công đồng chung thể hiện tiêu biểu nhất tập đoàn tính của Giáo hội: “Quyền bính tối cao của giám mục đoàn trên toàn thể Giáo hội được hành sử cách trọng thể trong công đồng chung. Nhưng không bao giờ có công đồng chung nếu không được đấng kế vị thánh Phêrô phê chuẩn hay ít ra chấp nhận” (LG 22b). [44] Bởi tự bản chất, Giáo hội là “công đồng” vì được Thiên Chúa “triệu tập.” [45] Vì thế, cơ chế công đồng là rất hữu ích và xứng hợp đối với cuộc sống Giáo hội, nhưng không bởi “thần quyền” song bởi “Giáo luâït.” Công đồng là cuộc đại hội nghị của các giám mục hoặc trong một giáo tỉnh (công đồng tỉnh), hoặc trong một vùng (công đồng miền); [46] cũng có những công đồng do Thượng phụ triệu tập. Sắc lệnh của các công đồng phải được giáo hoàng chuẩn y.

Quyền triệu tập công đồng chung là quyền của giám mục Rôma; hội đồng giám mục có quyền triệu tập công đồng miền; còn tổng giám mục thì công đồng tỉnh với sự đồng ý của đa số giám mục trong tỉnh. Thành viên của công đồng miền hay tỉnh là các giám mục đang tại chức trong miền hay tỉnh ấy, nhưng cũng có thể mời các giám mục khác; tất cả các vị này đều có quyền biểu quyết. Có thể mời các thành phần khác trong cộng đoàn Giáo hội, cả đến giáo dân, tham dự các công đồng địa phương, nhưng chỉ với quyền tư vấn.

Lịch sử thời xưa cho thấy là các công đồng chung đầu tiên đều do hoàng đế triệu tập và giám mục Rôma gửi đại diện đến tham dự. [47] Thời ấy, không ai nghĩ là giám mục Rôma có quyền trên công đồng, đến nỗi công đồng Constantinốp III (năm 681) đã đi đến chỗ kết án giáo hoàng Honorius I là lạc giáo. Truyền thống thường sắp các công đồng chung theo một thứ trật bậc: bốn công đồng đầu tiên có uy thế đặc biệt; thứ đến là các công đồng chung trước biến cố ly khai Ðông-Tây. Thật ra, cho đến thế kỷ 9-10, thần học mới bắt đầu phân biệt công đồng chung với công đồng địa phương, nhưng chẳng có một tiêu chí nào rõ ràng. Giáo hội công giáo đếm được 21 công đồng chung, với những tầm giá trị khác nhau. Thời Trung Cổ, tại Âu châu, các công đồng thường là do nhà vua triệu tập; nhưng từ thời Ðức Grêgôriô VII († 1085), Rôma dành riêng quyền triệu tập công đồng.

Trong thế kỷ 14-15, xuất hiện một học thuyết chủ trương công đồng có tối thượng quyền và có cả quyền truất phế giáo hoàng, nếu ngài rơi vào con đường lạc giáo chẳng hạn; xem ra các văn kiện của công đồng Constance (1414-17) chấp nhận “công đồng thuyết ” ấy. [48] Vì thời ấy Giáo hội đang gặp khủng khoảng (đã từng có ba giáo hoàng cùng một lúc), nên nhiều người nghĩ rằng chỉ công đồng chung mới có thể giải quyết được vấn đề. Công đồng Basel (năm 1439) tuyên bố thuyết này là “chân lý đức tin.” Nhưng, học thuyết này đã bị công đồng Firenze kết án (DS 1309), dù vẫn còn lưu lại với nhiều dấu vết đọc thấy trong chủ nghĩa Pháp giáo (Gallicanism: DS 2281t), trong học thuyết của Fêbrôniô (Febronianism: DS 2592t) hay trong những học thuyết tương tự. Công đồng Vaticanô I đã chung quyết kết án học thuyết nói trên.

 


[1] Xem Balthasar, H.U. von, Church and World [Sponsa Verbi], N.Y.: Herder & Herder 1967.

[2] Xem Congar, Y. , Ministères et communion ecclésial, Paris 1971, trg. 140-175; Küng, H., Infallible? An Inquiry, New York 1971, trg. 181-185.

[3] Xem Rousseau, D. , (ed), L’infaillibilité de l’Église, Chevetogne: Gembloux 1963.

[4]   Thánh Tôma viết: “Không quy chế nào có thể kế tiếp quy chế Luật mới... Vì không có thể có cái gì gần cùng đích hơn là cái dẫn đến tận cùng đích” (Tổng Luận, 1-2, q.106, a.4)

[5]   Xem Dt 7: 27; 9: 12; 10: 10; Rm 6: 10

[6]   Về thành ngữ nàøy xem Is 38: 10; Kn 16: 13; G 38:17; Tv 9:15; 106:18; Lc 2:26 Trong Tân Ước, “môn âm phủ” cùng một ý nghĩa như “quyền quỷ thần;” xem Ep  12: 17

[7]   Xem Mt 5: 11; 10: 16-31; Ga 15: 20.

[8]   Thánh Augustino â nói “pugnari potest, expugnari non potest,” PL 40.635.

[9]   Professio Fidei, AAS 60 (1968) 436-445.

[10] Xem Remers, Johannes “La sucession apostolique de l’Église entière,” trong Concilium 34 (1968) 37-49.

[11] Schillebeeckx, E., “The Catholic understanding of Office in the Church,” Theol. Stud. 30 (1969) 567-87; Brown, R. , Priest and Bishop: Biblical Reflections, New York 1970.

[12] Xem “Successio apostolica” trong Lexicon fuer Theologie und Kirche IX, 1964, 1140-44; Congar,Y. , “Composantes et idée de la succession apostolique,” Oecumenica, Jahrbuch fuer oekumenische Forschung, Minneapolis-Neuchâtel 1966, 61tt; idem, trong Ministères et communion ecclésiale...  trg. 51-94; Concilium số chuyên đề 34, 1968; Ratzinger, J. Card. , Principles of Catholic Theology, San Francisco: Ignatius 1987, II, 2; Kocik, T.M., Apostolic Succession in an ecumenical Context, Alba House 1998.

[13]   Guitton, J., Dialogues avec Paul VI, Paris 1967, trg. 301.

[14] Xem Cullmann, O., Peter: Disciple - Apostle - Martyr, London: SCM Press 1953; Menoud, Ph. , L’Église et les ministères, Verbum Caro 1955, trg. 154.

[15]   Xem Betti, U. , La dottrina sull’episcopato del concilio Vaticano II, Roma 1984.

[16]   Về chủ  đề này, xin xem Congar, Y. , Le Saint Esprit et le corps apostolique, 1953; Ehrhard, A., The Apostolic Succession in the First Three Centuries of the Church, 1953; Dix, G. , “The Ministry in the Early Church” trong Kirk, K.E., (eđ), The Apostolic Ministry (1957, 2nd ed.), trg. 183-303; Rahner, K. -Ratzinger J. , The Episcopate and the Primacy (Quaestiones Disputatae 4) 1962; Congar, Y. -Dupuis,B.-D. , L’Épiscopat et l’Église universelle, 1962; Colson, J., L’Épiscopat catholique, 1963; McKenzie, J., L. , Authority in the Church, New York: Paulist 1966; Garijo-Guembe, M.M., “La ‘sucesión apostólica’ en los tres primeros siglos de la Iglesia,” Diáologo ecuménico, 2 (1976) 179-231; O’Meara, Th.F. , Theology of Ministry, New York: Paulist 1983.

[17]   Xem Cv 1: 21-22; 2: 32; 3: 15; 4: 33; 5: 32; 10: 39-42; 13: 31; 22:15; Ga 15:27; Lc 1:1.

[18]   Cv 2: 17. 22tt; 3: 12tt; 4: 8tt; 1Cr 15: 1tt....

[19]   Cv 2: 44; 4: 32.34.35; 5: 1-11; 6: 1tt; 1Cr 6: 1tt; 2Cr 8. Xem Colson, J. , “L’organisation ecclésiastique aux deux premiers siècles de l’Église” trong Problemi di storia della chiesa, Milano 1970, trg. 56-57.

[20] Xem Dupont, J. , Le discours de Milet, Paris 1960; Lambrecht,J. , “Paul’s farewell-Address at Miletus (Acts 20: 17-38),” trong Kremer, J. (ed), Les Actes des Apôtres: traditions, rédactions, théologie, Gembloux-Leuven U.P. 1979, 307-337; Prast, F., Presbyter und Evangelium im nachapostolischer Zeit: Die Abschiedsrede des Paulus in Milet (Apg 20, 17-38), Stuttgart 1979.

[21]  2Tm 4: 6; 3: 1-5, 14-17; 4: 3-4.

[22] 1Clementis 42.44.

[23] Câu chuyện ở Eusêbiô, Historia Ecclesiastica, PG 20.278t.

[24] Ad.Haer. III.3.1-3, PG 7.848; IV.26.2; 33.8

[25] Patrologia Latina (Migne) 2.44, 49.

[26]   Epistola 66.

[27] Epistula ad Cyprianum (năm 256), PL 3:1168.

[28]   Những viri apostolici, như Clêmentê nói; thí dụ Alexanđria là “tông tòa” vì coi thánh Marcô như vị sáng lập.

[29]   Giáo luật : “Trừ khi có phép của Tòa Thánh, trong lễ phong chức giám mục, giám mục chủ phong phải có ít là hai giám mục trợ phong; hơn nữa, cùng với các vị ấùy, tất cả các giám mục hiện diện cũng nên cùng tấn phong người được tuyển chọn” (điều khoản 1014).

[30]   Giáo lý mới dạy: “Khi ban Thánh Thần cho các tông đồ, Ðức Giêsu Phục sinh ủy thác cho các ngài quyền thánh hóa (x. Ga 20:21-23): các ngài trở nên dấu chỉ bí tích của Chúa Kitô. Cũng do quyền năng Thánh Thần, các ngài chuyển giao quyền thánh hóa cho những người kế nhiệm. Việc kế nhiệm tông đồ định hình toàn bộ đời sống phụng vụ của Hội Thánh, việc kế nhiệm đó mang tính bí tích và được truyền lại bằng bí tích Truyền Chức” (số 1087).

[31]   Traditio Apostolica, 2.

[32]   Trong Eusebiô, Historia Ecclesiastica VI.43.10

[33] Xem Maccarrone, M. , “Lo sviluppo dell’idea dell’episcopato nel II secolo...” trong Problemi di storia della chiesa,  trg. 85-206.

[34] Xem Irênêô, Ad. Haer. IV.26.2; PG 7.1053.

[35] Những kitô hữu không công giáo bắt đầu ý thức đến điểm này; xin xem Empire, P.C. , (ed), Teaching Authority and Infallibility in the Church. Lutherans and Catholics in Dialogue, VI, Minneapolis: Augsburg 1980.

[36]   Về điểm này ở Vaticanô II, xin xem Philips, G. , L’Église et son mystère au deuxième concile du Vatican. Histoire, texte et commentaire de la Constitution “Lumen Gentium,” 2 cuốn, Tournai: Desclée 1967. Xem thêm Lattanzi, H. , “Quid de episcoporum collegialitate ex Novo Testamento sentiendum sit?” Divinitas 8 (1964) 62-96; Lecuyer, J. , Études sur la collegialite épiscopale, Lyon 1964; Stanley, D.M., “The New Testament Basis for the Concept of Collegiality,” Theol. Stud. 1964, 197-216; Unam Sanctam, số chuyên đề 52 (1965); Congar, Y. , La collégialité épiscopale, Paris: Cerf 1965; Ratzinger, J. , “La collégialité épiscopale. Dévélopement théologique” trong Baraúna, G., (ed.), L’Église de Vatican II,  trg. 763-790; ibid. Dejaifve, G. , “La collégialité épiscopale dans la tradition latine” trg. 871-890; ibid. Lyonnet, S. , “La collégialité épiscopale et ses fondements scripturaires” trg. 829-846; Provost, J-Kurt,W., (eds), “Collegiality put to the test,” Concilium 1990/04.

[37]   Eusebiô , Historia Ecclesiastica V.16.10: hội đồng ở Tiểu Á về lạc giáo Montano; V.23: về ngày tháng lễ Phục sinh; c.đ. Nicêa quyết định mỗi giáo tỉnh phải hội hiệp hai lần trong một năm (khoản 5); nghĩa là Giáo hội đã có phong tục này rồi.

[38]   Lecuyer, J. , “Le collège des évêques selon le pape Célestine I (422-432),” Nouv.Rev.Théol. 86 (1964) 250-259.

[39]   Cyprianô, Epistula 67.5.

[40]  Mansi 11. 668.

[41]   Mansi 16. 174.

[42]   Ðây chúng ta gặp một khái niệm quan trọng trong phạm vi Giáo hội học là “thông hiệp phẩm trật,” được dùng trong Lumen Gentium và nhiều văn kiện của Tòa thánh; muốn hiểu sâu xa, xem Ghirlanda, G. , “Hierarchica Communio”: Significato della formula nella “Lumen Gentium”, Roma: PUG 1980.

[43] Vaticano II đã nói về Hội đồng giám mục trong Christus Dominus, chương III.

[44]   Những chi tiết về việc triệu tập, về những thành phần và thủ tục được Giáo luật quyết định: các khoản 338-341.

[45] Congar, Y. , “The conciliar structure of the Church,” Concilium 167 (1983) 3-9

[46]   Concilium plenarium: xưa: những giám mục của một nước; nay: những giám mục trong lãnh vực của một Hội đồng giám mục (khoản 439); về những c.đ. địa phương khác nhau, xin xem Giáo luật, khoản 439-446.

[47] Hefele, C.J. ,-Leclercq, H. , Histoire des conciles, (11 cuốn), Paris 1907-1952; Dvornik, F. ,  The Ecumenical Councils, 1961; Rousseau, O. (ed), Le concile et les conciles, Paris 1960; xem Concilium (Anh ngữ) số chuyên đề 167 (1983).

[48] Thierney, B. , Foundations of Conciliar Theory, 1955; Alberigo, G. , Chiesa conciliare. Indentità e significato del conciliarismo, Brescia 1981.