GIÁO HỘI HỌC II

CHƯƠNG 15

THỪA TÁC VỤ CỦA PHÊRO

Nhập Ðề

Như đã thấy, Giáo hội phát sinh từ Ðức Kitô, và được cai quản theo thể chế phẩm trật , bởi những người kế vị nhóm tông đồ. Và phẩm trật ấy của Giáo hội dành một địa vị đặc biệt cho giám mục Rôma. Ngoài ra, giám mục Rôma , tức là giáo hoàng, còn đắc thủ tối thượng quyền trong Giáo hội, và đó là do “thần luật ,” vì lẽ ngài kế vị thánh Phêrô trong phận vụ Ðức Kitô đã trao phó. [1]

Các Giáo hội không công giáo phủ nhận lập trường trên đây, nhưng là theo những cách thức và trong những mức độ khác nhau. Chính Ðức Phaolô VI cũng nhận rằng trở ngại lớn nhất đối với phong trào đại kết là giáo hoàng. Vì vậy, nên thử tìm hiểu xem giáo lý công giáo dựa vào đâu mà dạy như thế, và phải hiểu như thế nào về giáo lý ấy. [2]

Trong Tân Ước, sau thánh danh Giêsu Kitô, danh xưng “Phêrô” được nhắc đến nhiều nhất: 154 lần gọi riêng, cọng thêm 27 gọi chung với “Simon.” Ðiều đó cho thấy là Simon-Phêrô giữ một địa vị có một không hai trong Giáo hội; và thế tất, địa vị độc đáo ấy phải mang một ý nghĩa lớn đối với cuộc sống Giáo hội.

Phêrô Trong Phúc Âm

Bốn Phúc âm đều ghi lại một số chi tiết về tiểu sử của Phêrô: tên riêng và tên hiệu, vai trò trong nhóm tông đồ và trong cuộc đời rao giảng của Ðức Giêsu, nhất là cung cách cư xử và được cư xử trong cuộc thương khó và phục sinh.

— Phúc Âm Nhất Lãm: dù mỗi tác giả tổ chức bố cục và trình thuật theo một nhãn quan riêng, thì cả ba đều viết về nhân vật Phêrô một cách thật trung thực, thẳng thắn và rất đáng tin cậy. [3] Trước hết, Simon là môn đồ Ðức Giêsu gọi từ lúc đầu cùng với em là Anrê; họ làm nghề đánh cá. Ðức Giêsu kêu gọi họ: “Hãy theo tôi!” và hứa: “tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá” (Mc 1: 16-18); họ bỏ mọi sự và theo Ngài. Luca đặt trình thuật Ðức Giêsu gọi Phêrô trong khung cảnh “thần hiển,” tức là phép lạ bắt được mẻ cá lớn, như để làm bằng cho lời hứa về sứ mạng tương lai (x. Lc 5: 1-11). Tính cách đặc thù và tầm trọng yếu của các biến cố ấy cũng được phản ánh rõ qua việc xếp tên trong bốn danh sách của mười hai tông đồ: Phêrô đứng đầu, và Mt 10:2 còn nhấn mạnh hơn nữa: “đầu tiên” (prỗtos) là Phêrô. Việc dành cho Phêrô địa vị đặc thù và nổi bật như thế là do ý muốn của chính Ðức Giêsu.

Hơn nữa, Phêrô được liên kết với Ðức Giêsu cách đặc biệt. Ngài vào nhà của Simon và chữa bà gia của ông (x. Mc 1: 29-31). Phêrô cũng đứng đầu nhóm ba môn đồ được Ðức Giêsu đem theo mình trong những trường hợp đặc biệt: khi làm cho con gái ông Giaia sống lại (x. Mc 5: 37), khi “biến hình” trên núi (x. Mc 9: 2-8), và khi cầu nguyện trong vườn Ghếtsêmani (x. Mc 14: 33tt). Cũng nên lưu ý là sau phục sinh và sau khi Giacôbê (anh của Gioan: Cv 12: 2, trong “bộ ba”: Mt 17: 1) bị giết, nhóm “bộ ba” vẫn còn (x. Gl 2: 9), nhưng là với Giacôbê “anh em Ðức Giêsu” (Gl 1: 19), người đứng đầu Giáo hội Giêrusalem.

Trong nhiều đoạn, Phêrô được giớùi thiệu như là “người phát ngôn,” [4] hoặc như là thủ lãnh của nhóm: “Simon và các bạn...” (Mc 1: 36), “Phêrô và đồng bạn...” (Lc 9: 32). Sáng ngày phục sinh, thiên thần báo tin cho các bà và khuyên: “Hãy đi nói với các môn đồ và với Phêrô...” (Mc 16: 7); những người ngoài nhóm môn đồ thì coi Phêrô như là đại diện của nhóm (x. Mt 17: 24).

Phúc âm Matthêu nêu bật vai trò của Phêrô bằng cách kết liền ông với con người và hành động của Ðức Kitô: khi Ðức Giêsu bước đi trên mặt nước, Phêrô được mời cùng đi với Ngài (x. Mt 14: 28-31); trong vụ nộp thuế cho đền thờ, Ðức Giêsu truyền cho Simon làm một việc lạ tựa như là một biểu tượng chỉ về hành động của các tiên tri thời xưa: bắt một con cá và dùng cùng một đồng tiền lấy trong miệng cá để nộp thuế cho phần Ngài và phần của Phêrô (x. Mt 17: 24-27).

Tóm lại: trong Ítraen mới, do bởi ý muốn của Ðức Kitô, Phêrô xuất hiện như môn đệ đứng đầu, kết liên đặc biệt chặt chẽ với con người và hành động Ðức Kitô.

Tâm điểm của Phúc âm nhất lãm là cuộc Simon tuyên xưng đức tin ở Cêsarêa. Ðức Giêsu hỏi các môn đệ: “Người ta nói Thầy là ai?” (Mc 8: 27). Và họ trả lời như dư luận nghĩ. Ðức Giêsu hỏi một lần nữa: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai? Ông Phêrô thay mặt trả lời: “Thầy là Ðấng Kitô” (Mc 8: 29; Mt 16: 16-19). [5] Sau đó Ðức Giêsu “dạy cho các ông biết Con Người phải chịu đau khổ nhiều” (Mc 8: 31), sẽ bị giới cầm quyền Giêrusalem loại bỏ và giết chết. Simon tỏ ra lo lăéng, không chịu nhận, vì cho đó là trái với quan niệm chung về Ðấng Mêsia, và ông còn “trách Ngài” (x. Mc 8: 32). Ðức Giêsu phản ứng mạnh: Ngài cũng trách Phêrô và gọi ông là “Satan” tức kẻ thù (x. Mc 8: 33). Rồi Ðức Giêsu dạy cho họ biết giáo lý về “thập giá.” Nghĩa là, Simon được miêu trình như người môn đồ điển hình của các môn đồ: hứng khởi thì có, gặp khó lại chẳng hiểu, thấy điêu linh liền trốn chạy.

Khủng hoảng trầm trọng nhất xảy ra trong thời gian Ðức Giêsu chịu thương khó. Ngài loan báo trước là tất cả sẽ vấp ngã vì Ngài, nhưng Phêrô cũng cứ dõng dạc quả quyết: “Dù tất cả có vấp ngã đi nữa, thì con cũng nhất định là không!” Ðức Giêsu nói rõ hơn: “Chính đêm nay, trước khi gà gáy, anh sẽ chối Thầy ba lần” (Mc 14: 29). Phêrô cũng chưa chịu tin. Trong vườn Ghếtsêmani, Ðức Giêsu đem riêng Simon, Giacôbê với Gioan đi theo đến gần nơi Ngài cầu nguyện, và khuyên họ cầu nguyện; nhưng họ lại ngủ, vì thế khi bị cám dỗ họ đã sa ngã. Phêrô theo Ðức Giêsu vào nhà thượng tế và chối Thầy ba lần; nhưng sực nhớ lại lời Thầy tiên báo nên “oà lên khóc” (Mc 14: 72).

Sau Phục sinh, lời tiên báo của Ðức Giêsu ứng nghiệm: Phêrô trở lại và củng cố các anh em mình (x. Lc 22: 31-32), tức Phêrô thắng thế Satan, như đã được chính Ngài khẳng định trong đoạn Mt 16: 17-19: “con là đá... và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi.” Rồi, rõ ràng và tích cực hơn, Ðức Giêsu hứa: “Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa nước Trời: dưới đất anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy” (Mt 16: 19). Hai ẩn dụ “đá” và “chìa khóa” tượng trưng cho vai trò của Phêrô trong Giáo hội. “Ðá” là để củng cố và thống nhất những yếu tố cấu thành ngôi nhà; “chìa khóa” chỉ về chức vụ quản lý trong nhà vua (x. Is 22: 22; Kh 1: 19).

Kết luận: Phúc âm nhất lãm đã giới thiệu một Simon-Phêrô rất sát thực, rất cụ thể, rất con người, không chút lý tưởng hóa hay thần thánh hóa; và ngoài ra, còn giúp cho nhận ra rõ Phêrô không chỉ là mẫu mực của môn đồ, mà còn là đại diện của cộng đoàn tín hữu.

Trong truyền thống Gioan, “Phêrô” không những được giới thiệu duới những dạng nét tương tự như trong Phúc âm nhất lãm, [6] mà hơn nữa còn được phác họa theo một cách kiểu đặc biệt. Gioan cũng nói đến tên hiệu Phêroâ, cho hiểu Phêrô là một trong Nhóm Mười Hai , và đồng thời cũng cho thấy rõ vai trò nổi bật của Phêrô trong đời sống Ðức Giêsu. Nhưng có điều đặc biệt là Gioan giới thiệu Phêrô như người phát ngôn của Nhóm Mười Hai trong cuộc khủng khoảng do vụ tranh luận về bánh hằng sống gây ra, khi trình thuật cho thấy Phêrô đại diện Nhóm để tuyên xưng: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đi với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Ðấng Thánh của Thiên Chúa” (Ga 6: 68-69). Tuyên ngôn này tương tự như lời tuyên xưng ở Cêsarêa Philippi. Ðối với Gioan, Phêrô là tín hữu số một. Phêrô cũng được giới thiệu như bạn đồng hành, như người đối tác, như phần bổ túc của môn đệ Chúa thương (x. Ga 13: 23tt; 18: 15-16; 20: 3-8; 21: 7t): Gioan tin trước, nhưng Phêrô có địa vị ưu tiên; Gioan được yêu, nhưng Phêrô lại yêu “ba lần,” và vì thế Chúa Giêsu bảo ông: “Hãy chăm sóc chiên con và chiên mẹ của Thầy” (Ga 21: 15-17), tức là được quyền tiếp tục chức năng mục vụ của Ðức Giêsu. Chức năng của Gioan là làm chứng cho sự thật của truyền thống ; mà trong truyền thống ấy, Phêrô lại được Ðức Kitô phục sinh đặt làm người đại diện chính Ngài để chăn dắt toàn bộ đoàn chiên của Ngài.

Phêrô Trong Giáo Hội Sơ Khai

Văn liệu về điểm này là sách Công vụ Tông đồ của Luca, văn bộ Phaolô và truyền thống Phêrô. [7]

Công vụ Tông đồ đã trình thuật với nhiều chi tiết về vai trò của Phêrô trong Giáo hội Giêrusalem : các chương từ 1 đến 15 nhắc đến “Phêrô” 56 lần. Theo kế hoạch của Ðức Giêsu (x. Cv 1: 8), thì phải rao giảng Tin mừng ở Giêrusalem trước, rồi đến Samaria, và cuối cùng là trong khắp thế giới, “cho đến tận đất;” Phêrô là người phụ trách công cuộc này. Ðể làm cầu nối tiếp giữa Ðức Giêsu sinh tiền, Ðức Kitô phục sinh và tương lai, Phêrô đã đề xuất sáng kiến khôi phục Nhóm Mười Hai (x. Cv 1: 15t). Ngày Hiện xuống, Phêrô loan báo Tin mừng “điển hình,” làm mẫu mực cho tương lai (x. Cv 2: 14-36), và thành lập cộng đồng đầu tiên (x. Cv 2: 39-41). Phêrô làm phép lạ nhân danh Chúa Giêsu (x. Cv 3:1t), làm chứng về Ngài trước tòa Do thái (x. Cv 4: 19-20), và tuyên bố nguyên tắc của người tông đồ: “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người phàm” (Cv 5: 29). Trong cộng đồng kitô, Phêrô phán xét vụ Khanania và Saphira (x. Cv 5: 1t). Trong những bước tiến phát của Giáo hội thời đầu, Phêrô đóng giữ một vai trò đặc biệt: cùng với Gioan, Pherô đi “thêm sức” cho các tín hữu Samaria đã chịu phép rửa từ tay Philipphê (x. Cv 8: 17), và kết án Simon phù thủy (x. Cv 5: 18t). Quan trọng hơn nữa, Phêrô được Chúa chọn để mở cửa Giáo hội cho dân ngoại: Phêrô giảng Tin mừng cho Cornêliô và ban phép Thánh tẩy, mà không bắt buộc dân ngoại phải theo luật Do thái (x. Cv 10: 34-48), rồi sau đó, đã giải thích về thái độ hành động ấy trước Giáo hội gốc Do thái (x. Cv 10-11). Khi Paolô và Barnaba sáng lập những Giáo hội giữa dân ngoại, vấn đề lại được đặt ra, vì thế, trong công đồng Giêrusalem, Phêrô lên tiếng bảo vệ cùng môt nguyên tắc như Phaolô: “Anh em biết: ngay từ những ngày đầu, Thiên Chúa đã chọn tôi giữa anh em, để các dân ngoại được nghe lời Tin mừng từ miệng tôi và tin theo...” (Cv 15: 7t). Luca còn thuật là khi Phêrô bị bắt, Giáo hội đã khẩn thiết cầu nguyện cho ông (x. Cv 12: 5), và một thiên thần đã đến giải phóng ông, “rồi ông ra đi, đến một nơi khác” (Cv 12: 17)...

Các thư của Phaolô là những văn kiện xưa nhất của Tân Ước, và vì thế, có thể giúp hiểu nhiều về tình trạng của những thế hệ kitô đầu tiên. [8] Chừng năm 56, Phaolô gửi thư cho cộng đồng Côrintô và nói về “truyền thống ” chính mình đã lãnh nhận về Chúa sống lại, được đảm bảo bởi những chứng nhân chính thức là, trước hết, “Kêpha, rồi Nhóm Mười Hai” (x. 1Cr 15: 3-5). Ðáng chú ý là Phaolô gọi Phêrô bằng tên trong tiếng Aram là Kepha (x. Cr 9: 5), bởi cả các tín hữu người Hy lạp cũng đã quen với cách gọi như thế. Và còn cho thấy vai trò của Phêrô được coi là quan trọng đến độ trong một Giáo hội do Phaolô sáng lập, cũng có một “phe” tự xưng là “thuộc về Kêpha” (1Cr 1: 12). Cả đến những Giáo hội hẻo lánh ở vùng Galatia cũng biết đến Kêpha. Và khi cần củng cố “uy thế tông đồ” của mình thì, Phaolô trưng dẫn việc mình đã gặp ông Phêrô ở Giêrusalem (x. Gl 1: 18-19), hoặc nói là mình đã “lên Giêrusalem một lần nữa” để trình bày giáo ý và công việc của mình với “những vị có thế giá,” tức “Giacôbê, Kêpha và Gioan, những người được coi là cột trụ,” “vì sợ rằng” mình “ngược xuôi, và đã ngược xuôi vô ích” (x. Gl 2: 1-9). Tại Antiôkia , Phaolô đã “cự lại” Phêrô, vì thấy Phêrô không theo “chân lý Phúc âm” mà lại tạm sống theo những phong tục Do thái bởi nể “những người của Giacôbê” (x. Gl 2: 11-12). [9] Tóm lại: dù Phaolô có xác tín mình là tông đồ “bởi Thiên Chúa và Ðức Giêsu Kitô, chứ không do loài người” (Gl 1: 1), thì cũng vẫn coi Phêrô là “tông đồ làm mốc quy chiếu,” làm tiêu chí cho một sứ đồ.

Truyền thống Phêrô gồm có hai bức thư (1Pr, 2Pr); tác giả tự giới thiệu là: “Simêon Phêrô, tôi tớ và tông đồ của Ðức Giêsu Kitô” (1Pr 1: 1), gửi cho “những ai đang sống tản mác” (diáspora: 1Pr 1: 1). Phêrô xuất hiện như là vị tông đồ có uy thế phổ quát, như là chứng nhân và là mục tử (1Pr 5: 1-4). Còn thư thứ hai thì cho thấy Phêrô trong tư cách là vị tông đồ bảo đảm truyền thống đích thực của Giáo hội (2Pr 1: 8, 16-7). [10]

Nhiệm Vụ Của Phêrô

Khi giải thích các dữ liệu nêu trên, các nhà chú giải và các thần học gia thường hay bị những thành kiến chi phối. Phía Tin lành thường cho rằng những đặc ân của Phêrô chỉ là chuyện riêng tư của cá nhân Simon; ông chết, thì nhiệm vụ biến mất. Phía Chính thống công nhận Phêrô là tông đồ số một, nhưng chẳng có một nhiệm vụ gì đặc biệt để truyền lại; dù sao ông cũng không có quyền trên các tông đồ khác. Còn Giáo hội Công giáo thì đọc thấy nơi các danh hiệu của Phêrô những nhân tố làm nên toàn bộ quyền bính của giám mục Rôma . Ngày nay, nhờ công cuộc đối thoại đại kết , các lập trường khác nhau đã xích lại gần nhau rất nhiều.

— “Kêpha ,” Ðá, đã trở thành tên của Simon, hệt như “Kitô” đã trở thành tên riêng của Ðức Giêsu. Nghĩa là phận vụ Ðức Kitô dành riêng cho Simon là làm “Ðá.” Có kẻ chủ trương “Ðá” ấy không phải là Simon, mà là “đức tin của Simon.” Nhưng, theo văn mạch, nếu tách Phêrô khỏi Simon, thì cũng phải tách Kitô khỏi Giêsu, là điều hoàn toàn phi lý; ngoài ra, trong Kinh Thánh, khi Thiên Chúa đổi tên ai thì chính là để chỉ về sứ mệnh hoặc số phận của người ấy. [11]

Ðức Giêsu hứa xây Giáo hội Ngài trên Ðá ấy. Ðá làm nền móng tuyệt đối chủ yếu là chính Ðức Kitô (x. Ep 2: 20; 1Pr 2: 4); nhưng Simon là Ðá hữu hình, đại diện cho Ðá vô hình. Xây trên đá là bảo đảm cho nhà đứng vững kiên cố, vì nền tảng ấy sẽ không rung chuyển trước mọi cuồng phong bão tố (x. Mt 7: 24-7; Lc 6: 47-9). Ðức Kitô là nhà kiến trúc dựng xây Giáo hội, và Ngài chia sẻ với các môn đệ sứ mệnh ấy (rao giảng Tin mừng); thì cũng thế, Ngài chia sẻ với Simon phận sự làm đá tảng, hầu qua mối hiệp nhất và hiệp thông , nối kết các phần tử (những viên đá) thành một ngôi nhà vững chắc mà “cửa âm phủ” cũng không thể nào phá nổi.

— “Chìa khóa nước trời” là ẩn dụ quen thuộc và mang ý nghĩa hiển nhiên đối với người Do thái. [12] Cựu Ước kể lại sự việc tiên tri Isaia chuyển sấm Ðức Chúa cho Sépna, một công chức thối nát, nói rằng “Ðức Chúa phán: ‘Ta sẽ tống ngươi khỏi chức vụ, Ta sẽ đuổi ngươi khỏi địa vị. Ngày ấy, Ta sẽ gọi tôi tớ Ta là Engiakim, con của Khinkigiahu. Áo thụng của ngươi, Ta sẽ lấy mặc cho nó; cân đai của ngươi, Ta sẽ đem thắt cho nó; quyền bính của ngươi, Ta sẽ trao vào tay nó; nó sẽ là cha đối với cư dân Giêrusalem và với nhà Giuđa. Chìa khóa nhà Ðavít, Ta sẽ đặt trên vai nó. Nó mở ra thì không ai đóng được; nó đóng lại thì không ai mở được’” (Is 22: 19-22). Nghĩa là Engiakin được trao cho chức vụ chỉ huy cung điện, dưới quyền vua Êdêkia (x. 2V 18:18). Ðức Kitô cầm giữ chìa khóa của Ðavít (x. Kh 3: 7), để đóng để mở (x. Kh 1: 18); nhưng Ngài đã trao chìa khóa cho Phêrô như tôi tớ trung tín. Ðức Giêsu cũng đã nói đến “chìa khóa của sự hiểu biết” (Lc 11: 52) mà các thầy thông luật đã lạm dụng đem khóa chặt cửa Nước Trời không cho người khác vào (x. Mt 23: 13). Ẩn dụ “chìa khóa” có nghĩa “trước tiên là quyền truyền dạy với uy thế những điều Thiên Chúa mạc khải; thứ đến là quyền xét xử những người đã gặp được mạc khải, nghĩa là quyền đón vào hay loại trừ khỏi Nước Trời.” [13]

— “Tháo buộc ” là ẩn dụ chỉ về quyền cho phép hay cấm chỉ, cũng như quyền giải thích luật, như các rabbi thường làm, với kết quả là họ có thể trục xuất khỏi hoặc đón vào cộng đoàn. Vậy, như các rabbi có nhiệm vụ đối với Luật, Phêrô cũng có nhiệm vụ đối với kế hoạch của Ðức Kitô: Phêrô được quyền lập luật, điều phối “kế hoạch cứu độ” trong Giáo hội. [14]

— “Chăn chiên ” (Ga 21) là hình ảnh bố túc cho chương Mt 16. Như trong Ítraen cũ, các vua – chẳng hạn Ðavít (x. 2V 5: 2) hoặc các lãnh tụ khác (x. Gr 23: 1-2; Ed 34) – được coi là những vị chăn chiên, thì cũng vậy, trong Ítraen mới, Phêrô được Ðức Kitô phục sinh ủy thác cho sứ mệnh chăn dắt đoàn chiên của Ngài. Như trong Cựu Ước, Giavê là mục tử đích thực (x. Gr 23: 2-3, v.v.), thì cũng vậy, trong Tân Ước, Ðức Kitô là Ðấng chăn chiên lành (x. Ga 10: 11). Những vị chăn chiên khác chỉ chăm sóc các tín hữu của một cộng đoàn (x. Cv 20: 28), còn Phêrô chăm sóc các tín hữu của Ðức Kitô, tức là trọn cả đoàn chiên của Ngài. [15]

Từ Phêrô Ðến Các Giáo Hoàng

“Ðể hàng giám mục vẫn mãi là một và không phân chia, [Ðức Kitô] đã đặt thánh Phêrô đứng đầu các tông đồ khác, cũng như đã thiết lập nơi chính ngài, nguyên tắc và nền tảng trường cửu và hữu hình của hiệp nhất đức tin và của hiệp thông” (LG 18b).

Liên quan đến vấn đề này, nhiều vấn nạn đã được đặt ra, cả về mặt lịch sử lẫn trong lãnh vực thần học . Những dữ liệu đọc thấy trong Tân Ước, chỉ như là “mầm giống” còn cần phải từng bước triển phát ra giữa dòng lịch sử, theo ý định và sự an bài của Thiên Chúa. [16]

Kế Nhiệm Thánh Phêrô

Giáo lý về sự kiện giám mục Roma kế vị thánh Phêrô là thuộc đức tin công giáo. Lý do là vì Ðức Kitô đã muốn như thế. Phía Tin lành thường cho là không có ai mà cũng chẳng có chuyện kế vị Phêrô, vì nhiệm vụ của ngài là độc đáo dành riêng cho một mình cá nhân ngài. [17] Nhưng làm sao bỏ quên sự kiện này được là những văn liệu Tân Ước nêu bật vai trò của Phêrô đều được xuất bản sau khi Phêrô quá vãng. Cách riêng, Matthêu và Gioan quả đã muốn dạy những điều liên quan đến Giáo hội, chứ không chỉ để kể một số chi tiết về ông Simon. Nếu Giáo hội đã được xây trên Ðá-Phêrô, thì bao lâu có Giáo hội, bấy lâu cũng phải có nền tảng! “Ðá,” “chìa khóa,” “tác vụ chăn chiên” là những thành tố làm nên cơ cấu của Giáo hội, và vì thế các cấu tố ấy phải hằng tồn ở trong Giáo hội thì mới đảm bảo được toàn vẹn tính của Giáo hội.

Giai đoạn sơ khai của Giáo hội là giai đoạn quy phạm. Nhiều nhân tố phụ tùy trong cơ cấu đang trên đường hình thành của Giáo hội đã chịu ảnh hưởng của những hoàn cảnh địa phương như phong tục tập quán hay môi trường văn hóa chẳng hạn: đó là những nhân tố có thể biến mất hoặc phải thay đổi. Nhưng tổ chức cơ bản thì thuộc bản chất của Giáo hội, nên phải trường tồn và phải được bảo toàn, không chút đổi thay. Quả vậy, giờ đây, nhóm tông đồ với Phêrô làm đầu, vẫn đang tiếp tục tồn tại ở trong giám mục đoàn với giáo hoàng làm đầu.

Ai là người kế nhiệm Phêrô? – Giám mục Rôma! Không một ai khác đòi dành cho được chức năng này. Vaticanô I đã định tín như sau về sự kiện kế nhiệm ấy:

Công đồng kết án “bất cứ ai cho rằng Ðức Kitô đã không xếp đặt – tức không nhận là do thần luật – cho thánh Phêrô mãi mãi có người kế vị trong chức đứng đầu trên toàn thể Giáo hội; hoặc bất cứ ai cho rằng giáo hoàng Rôma không phải là người kế vị thánh Phêrô trong chức đứng đầu ấy” (DS 3058).

Và Vaticano II cũng đã nhắc lại giáo lý này trong chương III của Hiến chế Lumen Gentium. Thánh Phêrô đã chịu tử đạo tại Rôma, thánh Phaolô cũng vậy. Nói cho đúng, Phêrô không phải là giám mục “tòa” Rôma, bởi các tông đồ không phải hay không chỉ là giám mục theo nghĩa thông thường; [18] nhưng Giáo hội Rôma giữ “tòa” – tức nhiệm vụ và địa vị – của Phêrô (và cả Phaolô). Vì thế, vị đứng đầu Giáo hội này “ngồi trên tòa” của Phêrô (và Phaolô), tức làm người kế vị Phêrô. Vì thế, các giáo hoàng thường nhân danh Phêrô và Phaolô mà huấn dụ. [19]

Trong lịch sử – và cả trong vũ trụ – buổi khởi đầu của những thực tại tầm cỡ lớn thì khó mà đọc ra cho được. Ðịa vị của Giáo hội Rôma xuất hiện trong thư của Inhaxiô Antiôkia (khoảng năm 107): [20] trong lời chào mở đầu, ngài long trọng gọi Giáo hội Rôma là “Giáo hội chủ tọa tại miền người Rôma;” như thế có lẽ là vì Giáo hội ấy có ảnh hưởng trên một vùng rộng hoặc trên toàn nước Ý. Nhưng nên lưu ý là Inhaxiô không nhắc gì đến giám mục Rôma, trong khi trong các thư gửi cho các Giáo hội khác, bao giờ ngài cũng chào thăm giám mục. Lịch sử cho thấy là càng ngày uy thế của giám mục Rôma càng tỏ rõ. Năm 96, Ðức Clêmentê can thiệp vào vụ khủng hoảng của Giáo hội Côrintô để phục hồi hòa bình. Năm 180, thánh Irênêô thành Lyon viết: “Mọi Giáo hội phải giữ mối thuận hòa với Giáo hội Rôma, vì có thế địa vị lãnh đạo mới vững mạnh hơn,” [21] nghĩa là Giáo hội Rôma là quy phạm để nhận ra đức tin kitô. Ðộ năm 200, khi bàn về giám mục Rôma, Tertullianô đã cho hiểu ngài là người kế vị Phêrô, và nhận Giáo hội Rôma có uy quyền đặc biệt. [22] Khoảng năm 252, thánh Cyprianô thành Carthagô (Bắc Phi) gọi Giáo hội Rôma là “tòa của Phêrô và [là] Giáo hội dẫn đầu.” [23] Từ thế kỷ bốn trở đi, Giáo hội Tây phương công nhận uy thế của Rôma, dù giới hạn của quyền bính ấy vẫn chưa rõ ràng. Các công đồng chung Nicêa , Êphêsô , Calcêđônia , và Constantinốp đã công nhận uy thế của Giáo hội Rôma, coi đó là tòa của thánh Phêrô; tuy nhiên, các Giáo hội Ðông phương không chấp nhận là Giáo hội Rôma có quyền bính trên họ.

Chính giám mục Rôma cũng phải đi dần từng bước mới đạt đến chỗ ý thức rõ được về các khía cạnh của nhiệm vụ mình. Xin trưng dẫn một vài thí dụ: Ðức Giáo hoàng Victor (189-198) can thiệp vào vụ tranh luận tại Tiểu Á về ngày tháng của Lễ Phục sinh. Ðức Stêphanô (254-257) lấy tư cách là người kế vị Phêrô mà dàn xếp cuộc tranh luận về “tái thanh tẩy” ở Bắc Phi và Tây Á. Khi thánh Athanasiô bị cách chức giám mục Alêxanđria (một tông toà), Ðức Giuliô lên tiếng can thiệp và buộc phải trả ngôi tòa lại cho Athanasiô (năm 341). Từ thời thế kỷ 5, giám mục Rôma thường khẳng quyết là mình có quyền phổ quát mà các Giáo hội khác có bổn phận phải tôn trọng. [24] Nhất là từ thời thánh Lêo Cả (440-461), giám mục Rôma đã thực sự và cụ thể đòi hỏi quyền phổ quát ấy – quyền tòa thánh – trên khắp Giáo hội. [25]

Chức Năng Của Giáo Hoàng

Sứ mạng của đấng kế vị thánh Phêrô là một sứ mạng hết sức phức tạp. Nhiệm vụ làm “Ðá Tảng” gồm có việc “làm cho anh em [mình] nên vững mạnh” (Lc 22: 32) trong đức tin và hiệp thông . Nhiệm vụ này liên quan đến toàn thể “đàn chiên” của Chúa, bởi đó là phận sự chăn dắt hết thảy mọi “chiên con và chiên mẹ” (Ga 21: 15-17), tức là, theo truyền thống hiểu, giáo dân và giáo sĩ. Ðối tượng của tác vụ này là bảo toàn kho tàng đức tin và cổ vũ hiệp thông trong Giáo Hội. Nhưng không có nghĩa là một mình “Phêrô” phải làm toàn bộ công tác ấy, song là phải làm trongvới “tông đồ đoàn,” vì các tông đồ cũng có trách nhiệm tương tự như ngài. Nghĩa là chức vụ Giáo hoàng chỉ là một chức vụ giữa nhiều chức vụ khác.

Nói cho cụ thể, Giáo hoàng có nhiều chức vụ khác nhau: chức vụ căn bản là Giám mục Rôma; rồi do đó, ngài là Giáo chủ (primatus ) của Ý đại Lợi; tiếp đến, ngài là Thượng phụ (patriarcha ) của Tây phương; và cuối cùng là Giáo hoàng. Chức vụ cuối cùng này có thể phối hợp hoặc tiêu trừ các chức vụ khác. Chức vụ Giáo hoàng có thể được thi hành bằng nhiều cách: quân chủ, tập đoàn, dân chủ, v.v... Môi trường lịch sử và văn hóa đã ảnh hưởng sâu đậm đến và góp phần phải nói là lớn vào cung cách tổ chức các cơ cấu của giáo triều Rôma. Vấn đề là làm sao để “Ðá” của Ðức Kitô – dùng mà xây dựng hiệp nhất – khỏi trở thành “đá vấp ngã” của Satan – gây trở ngại cho thống nhất (x. Mt 16: 23). [26]

1. Biến Chuyển Của Chức Năng Giám Mục Rôma

Khi ý thức rõ được về trách nhiệm của mình, giám mục Rôma bắt đầu ngày càng nới rộng thêm hơn phạm vi hành sử quyền bính của mình. [27] Ðà nới rộng ấy khởi sự khi Ðức Victor đe dọa tuyệt thông các giám mục Tiểu Á, và Ðức Stêphanô truyền cho thánh Cyprianô phải vâng lời. Ðức Ðamasô gọi Rôma là “tông tòa” và cấm các Giáo hội khác dùng tước hiệu này, dù có được một tông đồ sáng lập. Ðức Siriciô (399) mở rộng quyền cai quản ra toàn cõi nước Ý, rồi dần ra khắp thượng phụ tỉnh Tây phương, và đòi hỏi các thượng phụ Ðông phương phục quyền giám mục Rôma. Innocentiô I (407) đòi quyền phê duyệt những sắc lệnh của các hội nghị giám mục, và muốn các Giáo hội Tây phương phải theo phụng vụ của Rôma. Ðặc biệt, thánh Lêô Cả lấy quyền mà can thiệp ở Tây ban nha, và ở trong công đồng Calcêđonia ; còn tại Ý – vì tình trạng hỗn độn – ngài đã dùng đến quyền bính chính trị. Sau đó, cứ đà ấy, các giáo chủ Rôma (Felix II , Gêlasio , Symmacô , Hormisđas ... ) tiếp tục củng cố và phát triển quyền cai quản của tòa Rôma.

Các vị này dựa vào Kinh Thánh để chứng minh quyền tối cao của Phêrô, và cho thấy rằng quyền ấy vẫn tồn tại nơi tòa Rôma. Trong chức vụ của giáo hoàng – như hiện thấy – khó mà phân biệt rõ được những gì do thần luật mà có, và những gì xuất phát từ nhân luật. Chắc hẳn là đã có những đòi hỏi quá đáng. Thời Trung cổ, Giáo hội học triển phát từ môi trường Giáo luật học; quyền bính tùy thuộc vào luật pháp. Thời Ðức Nicola I , thế kỷ 9, xuất hiện một luật điển (mạo-Isidôrô) – Decreta Pseudo-Isidoriana đặt mọi quyền bính vào tay giám mục Rôma, và đã trở thành luật chung trong Giáo hội Tây phương. Ðà nới rộng quyền bính nói trên thấy được rõ nhất là qua cuộc Ðức Grêgôriô VII (1073-1085) cải cách Giáo hội, nhằm giải phóng Giáo hội khỏi quyền của các vua; và đồng thời tập trung mọi quyền bính vào trong tay của giáo hoàng: tài liệu điển hình là Dictatus papae. [28] Ngài đã tuyệt thông hoàng đế, truất phế nhà vua, v.v.. Việc tập quyền trung ương như thế đã giúp củng cố sự hiệp nhất, nhưng cùng lúc, các Giáo hội địa phương cũng đã bị lấy mất đi nhiều quyền cổ truyền. Ðức Innôcentiô III (1198-1216) đã can thiệp trong khắp Âu châu, vào mọi việc cả tôn giáo lẫn dân sự. Từ đó, một giả thuyết thần học xuất hiện, cho rằng giáo hoàng có toàn quyền ở dưới đất. Ðiển hình của lập trường này là trọng sắc Unam sanctam của Ðức Bônifaciô VIII (1294-1303) dạy rằng các vua chúa là con dân của giáo hoàng, và định tín rằng “mọi tạo vật phải thần phục giáo hoàng để được cứu rỗi” (DS 873-875). Giáo hoàng được gọi là nguồn gốc của mọi quyền bính trong Giáo hội, và từ ngài, các giám mục lãnh nhận quyền được trao phó cho mình; giáo hoàng cầm hai gươm (quyền bính) trong tay: tôn giáo và dân sự; [29] thế nên, Servus servorum Dei đã trở thành Summus Pontifex. [30]

Ðà biến chuyển ấy chắc hẳn là không cần thiết; nhưng tình trạng ấy đã được giáo luật cố định. Quyền bính trong Giáo hội được phân biệt thành: “quyền thánh chức (potestas ordinis ) và “quyền tài phán (potestas jurisdictionis ): về quyền thánh chức, không có một khác biệt nào giữa giám mục và giáo hoàng; nhưng vì toàn bộ thẩm quyền tài phán là thuộc giáo hoàng, nên giám mục cần được “phép” (uỷ nhiệm) của giáo hoàng thì mới có thể dùng quyền của mình một cách hợp pháp (x. LG 24).

Những điểm lợi của việc tập quyền nói trên là: một mặt, giáo hoàng đảm bảo được hiệp nhất trong các Giáo hội Tây phương suốt nhiều thế kỷ sôi nổi, và mặt khác, trong hoạt động của mình, tòa Rôma –và các giám mục, nói chung – có nhiều tự do hơn đối với quyền bính dân sự. Ðồng thời, tòa Rôma được rộng tay hơn để mà cổ vũ công việc truyền giáo ở khắp thế giới. Còn những điểm bất lợi thì bắt đầu lộ diện khi thay vì phải hiểu như là “dịch vụ,” thì nhiệm vụ của Phêrô được quan niệm với những phạm trù “quyền bính.” Tòa thánh giữ toàn quyền, khiến các giám mục và các Giáo hội địa phương mất đi những biệt nét của mình (ví dụ: trong cách chọn giám mục, trong lề lối cử hành phụng vụ và thiết đặt giáo luật, v.v.). Nhiều giáo hoàng đã sống không xứng đáng, gây hại cho toàn thể Hội thánh, nhất là trong thời Phục hưng. Ðối với nhiều kitô hữu, petra unitatis (tảng đá hiệp nhất) đã trở thành petra scandali (viên đá vấp phạm), khiến chức vụ giáo hoàng bị ngộ nhận, bị coi như là trở ngại lớn nhất trên đường đại kết .

2. Tối Thượng Quyền

“Nêáu ai nói rằng Giám mục Rôma chỉ có nhiệm vụ coi sóc hoặc dẫn dắt, chứ không có quyền tài phán toàn vẹn và tối cao đối với toàn thể Giáo hội, không những trong các vấn đề đức tin và luân lý mà còn cả trong các vấn đề tổ chức và quản trị Giáo hội tản mác khắp hoàn cầu, hoặc nếu ai nói ngài chỉ có phần lớn, chứ không có toàn vẹn quyền năng tối cao ấy ở mức viên mãn, hay cho rằng quyền năng ấy của ngài không phải là quyền thông thường và trực tiếp hoặc đối với mọi và mỗi Giáo hội, hoặc đối với mọi và mỗi vị chủ chăn cũng như tín hữu, thì kẻ ấy bị tuyệt thông” (DS 3064).

Năm 1870, công đồng Vaticanô I đã định tín sự kiện giám mục Rôma kế vị thánh Phêrô trong nhiệm vụ làm chủ chăn của Giáo hội; và dạy rõ là nhiệm vụ này bao hàm cả tối thượng quyền (DS 3059-64). Công đồng xác định rằng giám mục Rôma có quyền bính trên toàn thể Giáo hội, tức trên mỗi giáo dân và mỗi chủ chăn, trong phạm vi tôn giáo. Ðó là quyền “thông thường” [31] nghĩa là có thể hành sử được bất cứ lúc nào và đối với bất cứ việc gì, không chỉ trong những “trường hợp ngoại thường” hay đặc biệt mà thôi, và đó là quyền do chính chức vụ mà có, chứ không do ủy nhiệm. [32] Quyền này cũng được gọi là “trực tiếp,” [33] nghĩa là có thể áp dụng thẳng cho mỗi tín hữu mà không cần phải qua bất cứ một trung gian nào khác. Cuối cùng, quyền ấy được xác định là “quyền giám mục,” [34] tức là quyền giáo huấn, thánh hóa và cai quản dân Chúa (khác với quyền của một tổng giám mục, chẳng hạn). Và đã là quyền “tối cao,” tất không phải phục một quyền nào cao hơn trong Giáo hội (nhưng công đồng chung cũng có quyền “tối cao”). Thế nên, tòa Rôma xét xử tối hậu mọi vụ tranh tụng, không ai có thể sửa đổi những phán quyết tối hậu ấy. [35]

Các kitô hữu ngoài Giáo hội công giáo phủ nhận giáo lý trên đây.

Trong lịch sử, đã có nhiều lập trường khác nhau đối với tối thượng quyền của tòa Rôma, và nhiều ít đối nghịch với giáo lý mà Vaticanô I đã định tín. Trước hết, có người chủ trương công đồng chung có quyền trên giáo hoàng, như J. Gerson, Pierre d’Ailly, v.v. thuộc Ðại học Paris thời thế kỷ 14-15; sau đó, giả thuyết này được công đồng Pisa (1409), Constance (1415) và Basilea (1434) phê duyệt, nhưng giám mục Rôma không chuẩn y (DS 1445). Phái Pháp giáo (Gallicanism) đã từng đòi cho được một mức “độc lập” nào đó đối với Tòa thánh, nhất là từ thời vua Charles VII (1438), như đọc thấy được qua La Déclaration du Clergé (DS 2283), và qua lập trường của nhiều tác giả như Bossuet ... [36] Các phái Jansêniô (DS 2329) và Fêbrôniô cũng như hội đồng Pistoia đều phủ nhận tối thượng quyền của giám mục Rôma (DS 2592-7; 2603).

Kitô giáo Chính thống chấp nhận khoản 3 của công đồng Constantinốp (năm 381) và khoản 28 của công đồng Calcêđônia (năm 451), về “địa vị ưu tiên danh dự” (primatus honoris ) dành cho tòa Rôma. Giám mục Rôma không nhận hai khoản ấy, bởi lý do đưa ra để giải thích tại sao Rôma có địa vị đặc thù chỉ đơn thuần dựa trên sự kiện Rôma là thủ đô đế quốc; trong khi Rôma khẳng quyết là nếu Rôma có tối thượng quyền trong Giáo hội, thì chính là vì giám mục Rôma kế vị ngôi tòa của Phêrô và Phaolô. Hơn nữa, “đia vị ưu tiên” không chỉ là chuyện nghi thức lễ phép, nhưng là phận vụ xuất phát tất thiết từ một exousia (chức năng) trong Giáo hội. [37]

Mặt khác, các công đồng Lyon II (năm 1274) và Firenze (năm 1439) với một số nghị phụ Ðông phương tham dự, đã dạy giáo lý tương tự như Vaticanô I (DS 861; 1307): tức là xác quyết nhiệm vụ của giáo hoàng là do “Thiên Chúa thiết lập” (DS 3058). [38] Các nhà thần học công giáo nhận là giáo điều này không thể diễn dịch rõ ràng đơn thuần từ Tân Ước mà thôi được, nhưng còn cần phải dùng đến suy tư thần học về lịch sử, cũng như về hoạt động của Chúa quan phòng đối với Giáo hội, thì mới có thể kết luận để nói đó là do “thần luật” theo nghĩa rộng.

Có thể giải thích giáo điều trên đây theo nghĩa hẹp hoặc theo một nghĩa dịu dàng hơn. Chắc hẳn “tối thượng quyền” không phải là quyền hành của một chế độ quân chủ tuyệt đối hoặc độc đoán. Như mọi người, Giáo hoàng cũng phải phục tùng thiên luật và thần luật, không thể hoạt động ngược lại với Phúc âm được; chẳng hạn, ngài không thể bãi chức giám mục đi được, hoặc can thiệp vô lý vào nội bộ các địa phận. Giám mục Rôma phải thi hành nhiệm vụ Phêrô theo đúng mục đích của nó là mưu ích cho Hội thánh qua tác vụ gìn giữ niềm hiệp thông và rao giảng Tin mừng. Ðặc quyền của giám mục Rôma là khí cụ Thánh Thần dùng nhằm bảo toàn hiệp nhất trong đức tin, và di sản các tông đồ để lại. [39]

3. Bất Khả Ngộ

“Chúa Cứu Thế đã muốn Giáo hội Ngài bất khả ngộ khi xác định giáo thuyết về đức tin và phong hóa: phạm vi của ơn bất khả ngộ đó trải rộng tùy theo tầm quảng trương của kho tàng mạc khải cần được bảo toàn cho cẩn trọng và trình bày cho trung thực. Giám mục Rôma , vị thủ lãnh của giám mục đoàn, hưởng ơn bất khả ngộ đó do nhiệm vụ của mình khi lấy tư cách là chủ chăn và tiến sĩ tối cao của tất thảy các kitô hữu, có bổn phận củng cố anh em mình trong đức tin (x. Lc 22: 32), ngài công bố một điểm giáo lý về đức tin hay về phong hóa bằng một phán quyết chung thẩm. Vì thế, tự bản chất của chúng, chứ không phải do sự đồng ý của Giáo hội, các phán quyết của ngài phải được nhận là không thể sửa đổi, vì đó là những phán quyết được công bố dưới sự bảo trợ của Chúa Thánh Thần, mà Chúa đã hứa ban cho ngài qua thánh Phêrô, nên không cần ai khác chấp thuận và không phải tuần phục bất cứ một thẩm cấp tài phán nào khác. Quả thế, giáo hoàng Rôma không phán quyết theo tư thế cá nhân, nhưng, lấy tư cách là thày dạy tối cao của toàn thể Giáo hội, ngài trình bày và bảo vệ giáo lý đức tin công giáo: ơn bất khả ngộ của chính Giáo hội hiện diện một cách đặc biệt ở nơi ngài” (LG 25c).

Chúa Thánh Thần hoạt động trong Giáo hội cách nhiệm mầu. Người bảo toàn chân lý của Ðức Kitô trong toàn Nhiệm thể qua “cảm thức đức tin” của các tín hữu. Giám mục Rôma là “tín hữu” có trách nhiệm đặc thù, vì thế trong trường hợp đặc biệt hiếm có, ngài hưởng đặc sủng bảo trợ. [40] Ðặc sủng bất khả ngộ khác với tác động linh ứng (đối với các tác giả Kinh Thánh), khác với mạc khải. Trước khi phán quyết, giáo hoàng có bổn phận phải nghiên cứu về chân lý, phải “nghe lời” của Chúa và của anh chị em tín hữu. “Tự bản chất,” các phán quyết bất khả ngộ không thể sửa đổi, bởi đã được công bố do ơn trợ giúp của Thánh Linh; nhưng vì mang tính chất lịch sử, nên bao giờ các công thức diễn đạt chân lý như thế cũng chịu giới hạn của ngôn ngữ và của hoàn cảnh cụ thể. Chính vì thế, chúng có thể được tái cấu và thường thì cần được giải thích lại để ý nghĩa chúng hàm ngụ hiện rõ, xác thực và trọn vẹn, thích đáng với những hoàn cảnh mới. [41]

Giáo Hoàng Và Các Giám Mục

Công đồng Vaticanô I đã muốn xác định vai trò của các giám mục , nhưng vì bị chiến tranh làm gián đoạn, nên đã không thực hiện được ý định, và chỉ có thì giờ để gấp rút bàn luận về nhiệm vụ của giám mục Rôma mà thôi. [42] Dù công đồng đã thực sự quan tâm bảo toàn chức vụ cổ truyền của các giám mục (DS 3061), thì Hiến chế Pastor Aeternus của công đồng cũng đã bị dư luận hiểu lầm, đến nỗi các giám mục Ðức quốc đã phải lên tiếng giải thích (DS 3112-6). Một cách nào đó, Ðức Piô IX đã chuẩn y việc giải thích ấy (DS 3117). Vaticanô II nhắc lại giáo lý về “thừa tác vụ Phêrô” (LG 22-27; UR 2; OE 3; CD 2, 4-5, 8-9, 11) và đồng thời trình bày giáo thuyết về chức giám mục. Chưa hẳn giáo thuyết ấy là nhất quán, bởi những gì công đồng trình bày liên quan đến giáo thuyết về chức giám mục và giáo lý về giáo hoàng, có đi song song với nhau, thì cũng chưa hòa hợp với nhau được. Cũng không đọc thấy có gì thay đổi đáng kể trong Bộ Giáo luật mới.

Dẫu vậy, một quan niệm mới đã ló dạng trong các văn kiện của Vaticanô II. Sau đây là một vài điểm:

Hiến chế tín lý về Giáo hội xếp đặt trước hết là mầu nhiệm Giáo hội; rồi đến Dân Thiên Chúa; tiếp đó, Hiến chế cho thấy từ Dân mới xuất hiện phẩm trật : giám mục đoàn, và trong giám mục đoàn thì mới có giám mục Rôma.

— Mọi nhiệm vụ trong Hội thánh đều là những dịch vụ, theo tinh thần Ðức Kitô (x. Lc 22: 25-27).

— Hội thánh hiện diện trong Giáo hội địa phương; cho nên giám mục phải xử sự như là đầu thật sự của Giáo hội ấy, và cá biệt tính của Giáo hội ấy (tức những khác biệt) có giá trị đích thực và đóng giữ một vai trò tích cực trong việc thể hiện công giáo tính của Hội thánh.

— Quyền của giám mục phát sinh từ bí tích chức thánh chứ không phải từ quyền của giáo hoàng; vậy, “chức giám mục” là một biệt sủng của Thánh Thần, chứ không chỉ gồm có quyền tài phán mà thôi (LG 21b).

— Ðoàn thể các giám mục có quyền tối cao trong Giáo hội. Giáo hoàng là đầu của đoàn thể này. [43] Ðầu và thân thể phải gắn liền và hoạt động với nhau; và như giáo hoàng có quyền can thiệp vào từng địa phận, thì mỗi giám mục cũng có trách nhiệm đối với Giáo hội phổ quát.

— Thực trạng hiện nay cho thấy là quyền bính được tập trung quá nhiều tại Rôma. Vậy, cần phải thực thi nguyên tắc phân nhiệm (principle of subsidiarity) cho đúng mức hơn, tức là những gì bề dưới có thể làm được, thì bề trên không nên nhúng tay vào, hoặc nói cách khác: giám mục Rôma chỉ can thiệp vào những gì then chốt, mang tầm trọng yếu lớn đối với cuộc sống Hội thánh.

Vaticanô II đã không giải đáp hết các vấn nạn: theo LG 22 và Nota explicativa praevia (Chú thích sơ khởi), đoàn thể (collegium ) giám mục không có thể làm gì nếu giáo hoàng không phê chuẩn; còn giáo hoàng thì có thể hành động một mình. Theo lẽ, ngài có bổn phận phải hỏi ý kiến các giám mục, nhưng dù không làm như thế, hành động của ngài vẫn có giá trị pháp lý.

Thần học và Giáo luật tự hỏi: Giáo hội chỉ có một hay là hai tòa tối cao: một bên là tòa giáo hoàng, và bên kia là tòa giám mục đoàn . [44] Ða số các tác giả nghĩ là chỉ có một quyền tối cao duy nhất, nhưng có hai cách hành sử: 1) cách đoàn thể, tức giám mục đoàn, hay 2) cách cá nhân, tức giáo hoàng như là đầu của đoàn. Nguồn gốc mọi quyền bính trong Giáo hội là Ðức Kitô chứ không phải giám mục Rôma. Khi được tấn phong, giám mục trực tiếp lãnh nhận quyền năng từ Ðức Kitô; nhưng để hành sử quyền ấy, thì phải được “bổ nhiệm theo giáo luật.” Việc bổ nhiệm này có thể được làm hoặc trực tiếp do giáo hoàng, hoặc theo những phong tục hợp luật, hoặc theo cách thức giáo luật chỉ định; và các cách thức này có thể thay đổi tùy thời đại và hoàn cảnh (LG 24b).

Tương quan giữa giáo hoàng và các giám mục được coi là tương tự (chứ không hoàn toàn giống) như tương quan giữa thánh Phêrô và các tông đồ; và dĩ nhiên là không giống như giữa Ðức Kitô và các tông đồ. Dù giáo hoàng không chỉ là “primus inter pares – số một giữa những anh em ngang nhau, tức có ưu vị danh dự – thì cũng không phải là một “siêu giám mục.” Mối tương quan ấy tế nhị và phải được nhận thức qua nhãn quan Phúc âm hơn là qua phạm trù pháp luật (dù giáo luật vẫn là cần thiết).

Vai trò của giám mục Rôma giữ một tầm trọng yếu then chót trong Giáo hội; nhưng cách thể hiện vai trò ấy đã thay đổi nhiều. Không những chỉ có cách kiểu Rôma cậy dựa quá nhiều vào địa vị của mình như hiện đang thấy, gây ra cơ nguy chặn nghẹt con đường hiệp nhất với các Giáo hội khác không thôi, mà cả cách quan niệm “tối thượng quyền” như một thực tại hầu như thuần túy pháp luật, cũng đã tác hại làm cho tình trạng bế tắc ấy càng thêm trầm trọng. Vậy, cần phải nhìn Giáo hội Rôma qua nhãn quan của mối hiệp thông các Giáo hội địa phương, và nên đặt vai trò của các giám mục vào trong bối cảnh ấy. Thay vì “quyền bính tài phán,” thì nên dùng thành ngữ “năng quyền mục vụ” như là phạm trù cơ bản. Vaticanô I xác quyết: quyền tối cao ấy là “để xây dựng chứ không để phá hoại” các Giáo hội địa phương; tức là mỗi Giáo hội phải được rộng rãi thụ hưởng quyền tự trị của mình trong niềm hiệp thông với và trong tập thể tính của các Giáo hội mà các giám mục là đầu.

Trọng tâm của vấn đề là làm sao giữ cho được thế quân bình thích đáng giữa địa vị giáo chủ Rôma và giám mục đoàn . Chủ hướng “tập đoàn” của Vaticanô II đã không được bộ Giáo luật mới cụ thể hóa: Rôma vẫn giữ quyền quyết định tất cả những gì có một tầm quan trọng đáng kể, và các giám mục thì chưa thể hiện sollicitudo catholica (mối quan tâm đối với Giáo hội toàn thể). Có lẽ tổ chức cơ cấu của Giáo hội trong thiên niên thứ nhất đủ sức gợi lên những sáng kiến mới. [45] Các hội đồng giám mục có thể trở thành những đơn vị tổ chức tương tự như các lãnh phận thượng phụ ngày xưa... Hình như Thần Khí đang kêu mời Giáo hội táo bạo đổi mới ngõ hầu các kitô hữu có thể trở nên một. [46]

 


[1] Miller, J.M. , The Divine Right of the Primacy in Recent Ecumenical Theology,  Roma:Analecta Gregoriana 1980.

[2] Những sách vở vô số: xem Batiffol, P. , Cathedra Petri, Paris 1938; Thils, G. , La primauté pontificale, Paris: Gembloux 1972; Lecler, J. , Le Pape ou le concile? Une interrogation de l’Eglise médiévale, Lyon: Le Chalet 1973; Scheffczyk, L. , Il ministero di Pietro, Torino 1975; Dionne, J.R. , The Papacy and the Church. A Study of Praxis and Reception in Ecumenical Perspective, New York: Philosophical library 1987; Tillard, J-M.R. , L’Évêque de Rome, Paris: Cerf 1987; D’Onorio, J.-B. , Le Pape et le gouvernement de l’Église, Paris: Fleurus-Tardy 1992; Schatz, K. , La Primauté du pape. Son histoire, des origines à nos jours (1990), Paris: Cerf 1992.

[3]   Xem Rigaux, B. , “Saint Pierre et l’exégèse contemporaine,” Concilium 17, 1967, 129-152; Blank, J. , “Typologie néotestamentaire de Pierre et ministère de Pierre,” Concilium 83, 1973, 39-50; Garofalo, S. , Pietro nell’Evangelo, Roma 1964; Brown, R.E. et alii, Peter in the New Testament, 1973.

[4]   Xem Mc 11: 21; Mt 15: 15; 18: 21; Lc 8: 45; 12: 41.

[5] Xin xem trên, chương 4. Grelot, J. , “Sur cette pierre je bâtirai mon Eùglise,” Nouv. Rev. Théol. 109 (1987) 641-659; Claudel, G. , La confession de Pierre, Paris, 1988.

[6] Tavares de Lima, J. , Tu serás chamado Kephas. Estudo exegético sobre Pedro no Quarto Evangelho,  Roma: Analecta Gregoriana1994.

[7]  Saint Pierre dans le Nouveau Testament (Lectio Divina 79) Paris: Cerf 1974.

[8] Lohse, D.E. , “St. Peter’s Apostleship in the judgement of St. Paul, the Apostle to the Gentiles,” Gregorianum 72 (1991) 419-435.

[9] Xem Kieffer, R. , Foi et justification à Antioche. Interprétation d’un conflit, Paris 1982.

[10] Xem Giles, E. (Ed) Documents Illustrating Papal Authority, Ad 96-454,  Hyperion Pr. 1979; Grappe, Ch. , Images de Pierre aux deux premiers siècles, Paris: P.U.F. 1995.

[11] Abraham: St 17: 5; Gacob: St 32: 28; 35: 9; và Simon Phêrô. Khi Chúa đặt tên cũng vậy: Êvà: St 3: 20; Ismael: St 16: 11; Emmanuel: Is 7: 14; vv. Caragounis, C.-C. , Peter and the Roch, Berlin-New York: de Guyter, 1990.

[12]  Xem Butler, S. , (ed), Jesus, Peter & the Keys: a scriptural handbook on the papacy, Santa Barbara 1996.

[13]   Betz, J. , Christus-Petra-Petrus, trong Église et tradition, Le Puy: X. Mappus 1963, trg. 28-29.

[14]   Schnackenburg, R. , “Vollmachtswort von Binden und Losen, traditiongeschichlich gesehen,” trong Mueller, P.-G. , Kontinuitaet und Einheit, Freiburg 1981, 141-157.

[15] Ghiberti, G. , “Missione e primato di Pietro, sec. Gv 21,” Atti della settimana biblica, 13, 1967, 167-214; Marrou, St.B. , John 21-An Essay in Johannine Ecclesiology, Rome: Gregor.Univ. 1968.

[16] Schatz, Klaus , Papal primacy: from its origins to the present, Collegeville: A Michel Gazier Book, 1996.

[17] Cullmann, O. Pierre, disciple, apôtre, martyr, Neuchâtel 1952.

[18] Các tông đồ không phải giám mục theo nghĩa thông thường ngày nay, mà là tổ tiên của các giám mục, là “nguồn” xuất phát của giám mục, linh mục và phó tế, tức là của chức linh mục trọn vẹn.

[19] Lanne, E. , “L’Église de Rome, a gloriosissimis duobus apostolis Petro et Paulo Romae fundata et constituta Ecclesia”, Irénikon 49 (1976) 275-322; Farmer, W.R. , Peter and Paul in the Church of Rome: The ecumenical potentiality of a forgotten perspective, Paulist Press, 1990.

[20]   Thư gửi Rôma, trong PG 5.686.

[21] P.G. 7.848: “Ad Romanam enim ecclesiam, propter potentiorem principalitatem, necesse est omnem convenire ecclesiam,” nguyên văn Hy lạp đã mất, nên khó mà giải thích potentior principalitas.

[22]  Xem De Praescriptione, PL 2.44,49; nhưng khi ông theo lạc giáo của Montanô thì phủ nhận quyền của giám mục Rôma: De Pudicitia 21, PL 2.1024.

[23]   Epistula 55, P.L. 3.818; xem P.L. 3.770;  4.336.

[24] Xem Inocentiô I , năm 417 (DS 217), Zôzimô , năn 418 (DS 221), Bonifaciô I , năm 422 (DS 232), vv.

[25] Ðây người ta đặt vấn đề về khoản 28 của c.đ. Calcêđonia (n. 451): Công đồng Nicêa (n. 325) chấp thuận khoản 6, trong đó dành quyền đặt biệt cho ba tông tòa lớn là Alexanđria, Antiokia và Rôma: thượng phụ quyền. Năm 381, c.đ. Constantinopla thấy tình hình đã đổi (bấy giờ Constantinopla là thủ đô) và gán cho giám mục ấy honoris primatum post Romanum episcopum (Mansi 3.558). Rôma từ chới vì lý do ấy sai lầm: Rôma có địa vị đặc thù không phải vì là thủ đô của đế quốc, nhưng vì là tòa của Phêrô (DS 350); mặc dầu vậy, Constantinopla chiếm địa vị và thi hành quyền thượng phụ ở đông phương. Khi c.đ. Calcêđonia bắt đầu, có khóa họp riêng của 185 nghị phụ (tất cả là 500) chấp nhận một khỏan gán cho Constantinopla quyền bính bằng Rôma (Mansi 7.357). Hôm sau, khóa họp chung phế bỏ khoản ấy. C.đ. gửi thư cho đức Lêô, và ngài từ chối khoản luôn (PL 54.1000). Sau đó chính thượng phụ Anatôliô xin lỗi giáo hoàng (PL 54.1048), và khoản ấy không được liệt vào tập khoản.

[26] Xem Giáo luật, đđ 331-335.

[27] Colson, J. , L’Épiscopat catholique, collégialité et primauté durant les trois premiers siècles, Paris: Cerf 1963; Warwick, D. , “Centralisation de l’autorité ecclésiastique,” Concilium 91 (1974) 115-124; Tác phẩm tập thể, Il Primato del Vescovo di Roma nel primo millennio. Ricerche e Testimonianze, Roma 1991.

[28]  “Papa” có nghĩa là “cha” và xưa là tước hiệu của các giám mục, viện trưởng , vv; đông phương gọi các linh mục như thế. “Papa” là tước hiệu của thượng phụ Alexanđria. Ở tây phương, từ thế kỷ 6, “papa ” được dành riêng cho giám mục Rôma. Về đức Grêgôriô VII, xem Arguillière, X.H. , Saint Grégoire VII, Essai sur sa conception du pouvoir pontifical, Paris 1934.

[29]   Về lý thuyết “hai gươm” xem  Arguillière, H.X. , “Origines de la théorie des deux glaives,” trong Studi Gregoriani 1, (1947) 501-521; Y. Congar, Sainte Église, trg. 411-416.

[30]   Về những tước hiệu của đức giáo hoàng, xem Congar, Y. , “Titres donnés au pape,” trong Concilium 108 (1975); Maccarrone, M. , Vicarius Christi. Storia del titolo papale, Roma: Pont. Ath. Lateranense 1952

[31] Giáo luật định nghĩa: “Quyền cai trị thông thường là quyền được luật gắn liền với chức vụ” (điều 131 §1); điểm này kết án Febronius , (DS 2592-2597; 3113).

[32] Trái với potestas delegata (quyền thừa ủy: điều 131)

[33] Chống “Pháp giáo ,” Gallicanismus (DS 2281-2284), theo họ, lệnh của giáo  hoàng phảy được các giám mục ưng thuận và phải có placet của nhà vua, mới hợp phát.

[34] Chống giả thuyết của Tamburini và phái Jansêniô : họ chủ trương rằng giáo hoàng chỉ có quyền kiểm soát.

[35] Giáo luật, đ 1404: Prima Sedes a nemine judicatur (Không ai có quyền xét xử Tòa tối cao). Vaticano I đã phải tránh hai thuyết cực đoan, là episcopalismus integrismus; vì thế phải hiểu giáo điều này trong bối cảnh khủng hoảng ấy, và trong một Giáo hội học quá pháp lý.

[36]   Xem Dictionnaire de Théol. Cathol. IV, 197-201; Catholicisme,IV, 1731-1739.

[37] Xem Afanasieff, N. , “L’Église qui préside dans l’amour,” La Primauté de Pierre dans l’Église Orthodoxe, Neuchâtel, 1960; Daley, Br.E. , “Position and Patronage in the Early Church: The Original Meaning of Primacy of Honor,” Journal of Theol. Stud., 44 (1993) 529-553.

[38] Thils, G. , Primauté et infaillibilité du pontife Romain à Vatican I et autres études d’ecclésiologie, Leuven U.P. 1989.

[39] Xem Miller, J.M. , What are they saying about the Primacy?, New York 1983.

[40] Về vấn đề này xin xem Thils, G. , L’infaillibilité pontificale, Paris: Gembloux, 1969; Castelli, E. (ed.), L’infaillibilité: Son aspect philosophique et théologique, Paris: Aubier 1970; Chirico, P. , Infallibility: The crossroads of doctrine, Wilmington: M. Glazier 1983; Rebeiro, M. , “The ongoing debate on infallibility. Hans Kung’s contribution” Louvain Studies 19 (1994) 307-349; Bermejo, Luis , Infallibility on Trial, Westminster, Md, 1992; Kung, Hans , Infallible? - An unanswered enquiry, NY: Continuum 1995.

[41]   Xem Giáo luật, điều 749-750; Thánh Bộ Giáo Lý Ðức tin đã xuất bản một tuyên ngôn về những khó khăn đương kim về điểm này: xem “Mysterium ecclesiae,” AAS 65 (1972) 396-408; Sullivan, F.A. , Creative Fidelity. Weighing and Interpreting Documents of the magisterium, Dublin: Gill & Macmillan 1996.

[42] Buckley, Michael J. , Papal primacy and the episcopate, N.Y.: Crossroad 1996; Pottmeyer, Hermann J. , Towards a Papacy in Communion, Herder & Herder 1998; Giáo lý… số 880tt.

[43]   Một lần được gọi là “nguyên lý và nền tảng vĩnh cửu và hữu hình của hiệp nhất đức tin và hiệp thông” (LG 18b, so với DS 3051); Antón, A. , Primado y colegialidad, Madrid 1970 (với thư mục phong phú).

[44] Xin xem LG, Chú thích Sơ khởi số 1 về ý nghĩa của “giám mục đoàn;” Rahner, K. , “On Relationship Between the Pope and the College of Bishops,” Theol.Invest. 10, 1973, New York: Helicon Press, 50-70.

[45] Xin xem de Vries, W ., Orient et Occident, les structures ecclésiastiques vues dans l’histoire des sept premiers conciles oecuméniques, Paris, 1974.

[46] Balthasar, H.U. von , The Office of Peter and the Structure of the Church, San Francisco, Ignatius Press 1986; Granfield, P. , The limits of the Papacy, New York: Crossroad 1990; Zagano, Phillis & Tilley, Terrence W. , (eds), The exercise of the Primacy, Crossroad 1996.