GIÁO HỘI HỌC II

CHƯƠNG 8

GIÁO HỘI LÀ MỘT BÍ TÍCH

Giáo hội ở trong Ðức Kitô như là bí tích hoặc dấu chỉ và là khí cụ của dây kết hợp mật thiết với Thiên Chúa, và giữa toàn thể nhân loại...” (LG 1a).b

Nhận thức và giới thiệu Giáo hội là một bí tích quả là một điểm khám phá tốt đẹp và hữu ích của công đồng Vaticanô II , giúp mô tả rõ mối tương quan giữa Giáo hội và Ðức Kitô. Tương tự như Ðức Kitô là bí tích của Chúa Cha (Ngài là hình ảnh hữu hình của Thiên Chúa vô hình : Cl 1: 15), thì cũng vậy, Giáo hội là thực tại hữu hình làm biểu tượng cho Ðức Kitô, là dấu chỉ cho thấy sự hiện diện của Ngài, và là dụng cụ Ngài dùng để thực hiện công trình cứu độ suốt giữa dòng lịch sử loài người.

Lumen Gentium áp dụng khái niệm “bí tích” cho Giáo hội theo nghĩa loại suy, chứ không theo đơn nghĩa như khi nói về “bảy bí tích.” Thời trước công đồng, nhiều tác giả cũng đã từng dùng đến khái niệm này. Ðó chỉ là hình thức phản ánh một quan niệm cổ truyền về nhiệm vụ làm trung gian được trao phó cho Giáo hội ở trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa.

Hiến chế về Phụng vụ khẳng quyết: “Từ cạnh sườn Chúa Kitô chịu chết trên thập giá, đã phát sinh bí tích nhiệm lạ là Giáo hội” (SC 5). Danh xưng này được Hiến chế Lumen Gentium dùng như một cách định nghĩa Giáo hội. Hiến chế ghi rõ là: “Khi bị treo lên khỏi đất, Chúa Kitô đã kéo mọi người đến với mình. Khi từ kẻ chết sống lại, Ngài đã phái gửi Thánh Thần ban sự sống đến với các môn đệ, và nhờ Thánh Thần thiết lập thân thể Ngài là Giáo hội, như là bí tích cứu độ phổ quát” (LG 48). “Bí tích phổ quát” này cũng được gọi là “bí tích hữu hình của sự hiệp nhất cứu độ cho toàn thể và cho mỗi người” (LG 9). Ðây là lần đầu tiên trong lịch sử, Giáo hội được chính thức định nghĩa như một bí tích. Vậy, sự kiện này muốn nói gì?

“Bí Tích Giáo Hội”

“Bí tích” là gì? Thần học định nghĩa: “bí tích” là “dấu chỉ hữu hiệu của ân sủng,” hoặc theo Vaticanô II là “dấu chỉ và dụng cụ của việc kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa.” [1] Còn theo thánh Tôma thì “bí tích” là “những gì có quan hệ với sự thánh thiện, trong tư cách là nguyên nhân, là dấu chỉ, hoặc là trong một dạng quan hệ nào khác.” [2] Với những loại phạm trù hiện sinh hơn, bí tích được quan niệm như là biểu tượng Thiên Chúa dùng để mời gọi con người đón nhận ân sủng mà bí tích chứa đựng. Biểu tượng này linh nghiệm vì Thiên Chúa trung thành: Người đặt Giáo hội làm khí cụ cứu độ; thế nên, hễ ai gia nhập Giáo hội là được đón nhận vào trong lãnh vực cứu độ, và chính Thiên Chúa đích thân đảm bảo cho người ấy nhận được ơn cúu độ, nếu biết trung thành, không từ chối, không phản bội.

Công đồng cố ý dùng giới từ như (“như” một bí tích) để nói lên chủ ý muốn áp dụng ý niệm “bí tích” cho Giáo hội một cách loại suy, tức là theo cách khác so với “bảy bí tích” theo nghĩa quen thuộc; thế nên, không có chuyện có tám bí tích! Thần học hằng quan niệm Ðức Kitô là “bí tích cơ bản,” vì Ngài là hiện thân của Thiên Chúa vô hình, là dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa đối với loài người, là trung gian (vừa dụng cụ vừa chủ thể) của ơn cứu độ; hơn nữa, chính bản thân Ngài là ân sủng tối thượng Thiên Chúa ban cho loài người. Ðức Giêsu (con người) là trung gian làm cho chúng ta được kết hiệp với Thiên Chúa và nhận được mợi ơn Người ban. Công đồng Trentô dạy rằng các bí tích “chứa đựng ân sủng mà chúng biểu thị” (DS 1606); có thế mới thấy rõ Ðức Kitô thật là “bí tích cơ bản.” Mà Giáo hội là thân thể Ðức Kitô, cho nên trong Ngài và nhờ kết hợp với Ngài là Ðầu , Giáo hội thông dự vào nhiệm vụ hay sứ mạng bí tích của Ngài.

“Bí tích tính” không nói lên bản chất, song là chức năng của Giáo hội. Không giống những dân tộc khác (như dân Việt Nam, dân Do thái, v.v.), Giáo hội có một chức năng biểu tượng; không giống những xã hội khác (các quốc gia, chẳng hạn), Giáo hội không có, không mang trong mình mục đích của riêng mình: đó là “đặc tính cá biệt” của Giáo hội.

Bí tích tính này được thông chuyển trước hết cho bảy bí tích, rồi cho Lời Chúa trong phụng vụ , cho các á bí tích, và cả cho các cơ chế của Giáo hội nữa, dù theo những mức độ rất khác nhau.

Nhiệm Cục Bí Tích

Muốn hiểu rõ hơn bí tích tính của Giáo hội, thì cần phải biết đặt Giáo hội vào trong toàn cục kế hoạch cứu độ . Xưa nay, Thiên Chúa thường dùng những dấu hiệu để giao tiếp với con người. Tại sao lại thế? Vì Người muốn vậy, nhưng cũng còn vì bản chất của sự việc: Thiên Chúa tuyệt đối vô hình ; chỉ nhờ Con của Người nhập thể , con người mới được biết Người: “Không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ, nhưng Con Một... đã tỏ cho chúng ta biết” (Ga 1:18). Cụ thể hơn: ai thấy Ðức Giêsu là thấy Chúa Cha (x. Ga 14: 9): đó chính là trường hợp điển hình của bí tích chuẩn tắc. Bản tính con người bao giờ cũng cần đến những hệ thống biểu tượng để mà sinh hoạt và phát triển. [3]

Quả vậy, kế hoạch cứu độ được tóm gọn vào trong mầu nhiệm nhập thể: Thiên Chúa trở nên xác phàm, Ngài là con đường cứu độ. Ðức Kitô không chỉ là kho tàng tích chứa mọi ân sủng, không chỉ là trung gian duy nhất đưa dẫn lên với Thiên Chúa, mà còn là “mẫu mực” của những “đường lối” của Thiên Chúa nữa. Nơi Ðức Kitô, vật chất trở nên dụng cụ cứu độ; nơi Ðức Kitô, những cử chỉ và hoạt động của con người trở nên những cử chỉ và hoạt động của Thiên Chúa cứu độ; nơi Ðức Kitô, thần tính cứu rỗi chúng ta qua nhân tính. Các Giáo phụ đã cương quyết bảo vệ “nhiệm cục bí tích” khi kết án các lạc giáo khinh miệt vật chất, như là ảo thân thuyết, ngộ giáo , thuyết tân Platô, hay là thuyết nhị nguyên, v.v.: tất cả đều phủ nhận các bí tích. [4] Những phong trào có khuynh hướng duy linh, như thanh giáo (Cathari , Albigeois