GIÁO HỘI HỌC I

PHẦN II: BẢN TÍNH CỦA GIÁO HỘI

“Anh em không còn phải là người xa lạ hay người tạm trú, nhưng là người đồng hương với các thánh, và là người nhà của Thiên Chúa, bởi đã được xây dựng trên nền móng là các Tông đồ và Ngôn sứ, còn đá tảng góc tường là chính Ðức Kitô Giêsu. Trong Người, tòan thể cong trình xây dựng ăn khớp với nhau và vươn lên thành ngôi đền thánh trong Chúa. Trong Người, cả anh em nữa, cũng được xây dựng cùng với những người khác thành ngôi nhà Thiên Chúa ngự, nhờ Thần khí.” Ephesô 2: 19-22

CHƯƠNG 6

GIÁO HỘI LÀ DÂN THIÊN CHÚA

“Chắc chắn trong mọi thời đại và mọi dân tộc, bất cứ người nào kính sợ Thiên Chúa và thực hành đức công chính đều được Người đoáùi thương (Cv 10:35). Tuy nhiên, Thiên Chúa không muốn thánh hóa và cứu rỗi loài người cách riêng rẽ, thiếu liên kết, nhưng Người muốn qui tụ họ thành một dân tộc để họ nhận biết chính Ngườøi trong chân lý và phụng sự Người trong thánh thiện” (LG 9a). [1]

Dẫn Nhập

Dân Thiên Chúa là danh hiệu đặc thù và ưu tuyển được công đồng Vaticanô II dùng để chỉ về Giáo hội. Hiến chế tín lý về Giáo hội dành cả chương hai cho chủ đề này. Bởi Giáo hội là một mầu nhiệm, nên lý trí loài người không thể am tường trực tiếp qua khái niệm trừu tượng được; vì thế, công đồng dùng những ẩn dụ hoặc hình bóng của Kinh Thánh để mô tả thực thể của Giáo hội. Hình bóng thứ nhất là “Dân Thiên Chúa.”

Danh hiệu này cho thấy tiến trình liên tục trong lịch sử cứu độ. Ítraen vẫn tồn tại trong Giáo hội, với tư cách dân được chọn hầu mang ơn cứu độ đến cho toàn thể nhân loại. Ðã là “một dân tộc,” tất Giáo hội mang tính chất xã hội và lịch sử.

Ðàng khác, danh hiệu này cũng ám chỉ đến một số chủ đề trong Cựu Ước, như: lời hứa, giao ước, niềm mong đợi Ðấng Mêsia, v.v. tất cả, một cách nào đó, đều quy chiếu về Giáo hội. Như thế, Giáo hội thừa kế truyền thống cùng những lời hứa của Cựu Ước, và là đích điểm Cựu Ước nhằm tới. Thật vậy, Ðấng Mêsia Ítraen hằng chờ mong chính Ðức Giêsu, Ðấng lấy máu mình mà ký kết Giao ước mới, qua đó đã triệu tập dân mới của Thiên Chúa. Ítraen “cũ” là dấu tiên báo về Ítraen “mới ” là Giáo hội.

Ítraen, Dân Thiên Chúa

“Cũng như dân Ítraen theo xác thịt, khi đang lữ hành trong sa mạc, đã được gọi Giáo hội của Thiên Chúa (x. Nkm 13: 1; Ds 20: 4; Ðnl 23: 1tt), cũng vậy, dân Ítraen mới tiến bước trong thời đại này đang tìm về thành thánh tương lai bất diệt (x. Dt 13: 14) được gọi là Giáo hội Chúa Kitô (x. Mt 16: 18)” (LG 9c).

Trong Kinh Thánh, Ítraen được gọi là ’am (tiếng Do thái có nghĩa là dân), và được dịch ra tiếng Hy lạp bằng từ laós. Trong khi đó, các dân tộc khác được gọi là goyim và được dịch ra tiếng Hy lạp là éthne. Hai từ này nói lên một sự khác biệt về phương diện cứu độ. [2]

a. Nguồn gốc lịch sử của Ítraen cũng tương tự như mọi dân tộc khác. Chỉ khác Thiên Chúa đã can thiệp trực tiếp vào trong dòng đời các tổ phụ, đã “giải phóng” họ và “ban” cho họ một đất nước, vì Ngài đã tuyển chọn họ cách nhưng không giữa muôn dân. “Không phải vì các ngươi đông hơn các dân khác hết thảy mà Giavê đã đem lòng quyến luyến các ngươi, và đã chọn các ngươi: thật ra, các ngươi là dân ít người hơn mọi dân. Nhưng vì Giavê đã yêu mến các ngươi và Người đã giữ lời thề Người đã tuyên thệ với cha ông các ngươi; chính vì thế mà với bàn tay mạnh Giavê đã đem các ngươi ra khỏi nhà tôi mọi, khỏi tay Pharaô, vua Ai cập” (Ðnl 7: 7-8). Vì lòng thương này, Thiên Chúa chăm sóc Ítraen với tình phụ tử và gọi họ bằng “con” (x. Xh 4: 20; Hs 11: 1). Rồi Thiên Chúa đã “kết giao” với họ trên núi Sinai để đặt Ítraen làm Dân riêng của Người (x. Ðnl 29: 9-12). Vậy, hai yếu tố cấu tạo nên Dân Thiên Chúa là ơn tuyển chọn và giao ước.

b. Vì thuộc về Thiên Chúa, Ítraen là của riêng Chúa Giavê, tùy thuộc vào Người trong mọi sự, như tạo vật đối với Tạo hóa: sự tuyển chọn được sánh với một tác động sáng tạo đặc biệt. Ítraen vườn nho Giavê mến chuộng (x. Is 5: 1t; Tv 80: 9), là sản nghiệp (x. Ðnl 9: 26), là đàn chiên (x. Tv 23; Ed 34; v.v.), và là sở hữu riêng của Người (x. Ðnl 14: 2). Khi Thiên Chúa phân chia mặt đất cho muôn dân, Người dành một cõi đặc biệt cho Ítraen, Dân của Người (x. Ðnl 32: 8-9). Vì thế, Ðức Giavê được gọi là Thiên Chúa riêng của Ítraen (x. Lv 11: 12; Lc 1: 68), đến nỗi được Ngườøi gọi là “dân Ta” được gọi Người là “Chúa tôi” (x. Hs 2: 24). Do đó, Ítraen là một “dân được thánh hiến” (x. Ðnl 14: 4), nghĩa là một dân “thánh:” trong Kinh Thánh, từ “thánh” có nghĩa là “dành riêng cho Thiên Chúa” như một điều không thuộc về phạm vi phàm tục nữa. thuộc về “dân thánh” (theo nghĩa tôn giáo), nên các tín hữu phải trở nên “thánh” (theo nghĩa luân lý) x. Lv 11: 44-45.

c. Biện chứng giữa chủ nghĩa đặc tuyển khuynh hướng phổ quát đã trải dài suốt cả tiến trình lịch sử Ítra-en: do việc Thiên Chúa chọn riêng Ítraen, nhiều người thể nghĩ Người ruồng bỏ các dân khác. Cũng do vậy Ít-raen đã cố sống biệt lập (x. Ds 23: 9). Lúc chiếm hữu đất Palêttin, họ theo chính sách hïerem, anathema, nghĩa hủy diệt hết thổ dân (x. Lv 27: 28-29; Gs 6-7; 1Sm 15; v.v.); sau cuộc lưu đày, Esdras cũng lập luật buộc người Do thái sống biệt lập (x. Er 10: 11-12). Các tiên tri cũng nói lên những sấm ngôn kết án lương dân (x. Is 13-27; Gr 46-51; Ed 25-32; v.v.). Tuy nhiên, yếu tố phổ quát vẫn tiềm ẩn trong ơn đặc tuyển; Ítraen không chỉ một sắc tộc. Giavê chọn Abraham chính là để ban phúc lành cho muôn dân (x. St 12: 2-3). Người gốc Do thái tự huyết thống vẫn có thể bị gạch bỏ khỏi Ítraen, một người “ngoại” cũng thể được thâu nhận, tùy vào lòng trung tín đối với Giavê (x. Ðnl 27-28). Ơn huệ Thiên Chúa ký thác nơi Ítraen phải tỏa lan tới hết mọi người: “Sẽ xẩy ra là: Vào những ngày mai sau, núi nhà Giavê sẽ nên kiên vững trên đỉnh đầu hết các núi non, nhắc cao quá các nỗng. Hết thảy mọi nước sẽ tuôn đến, đông đảo các dân sẽ đổ về. Chúng nói: Nào! Ta hãy lên núi Gia-vê, đến nhà của Thiên Chúa Giacóp thờ, để Người dạy ta đường lối Người, để theo nẻo đi của Người, ta tiến bước...” (Is 2: 2-3); hoặc: “Các nước hết thảy hãy cùng nhau hợp lại, và các dân hãy tề tựu... Các ngươi là chứng tá của Ta! Sấm của Giavê, tôi tớ của Ta mà Ta đã chọn, ngõ hầu các ngươi nhận biết tin vào Ta...” (Is 43: 9-10; x. Ed 37:  28). vậy, ơn đặc tuyển hàm dung biểu hiện vai trò cùng sứ mạng cứu độ mà Ítraen đảm nhận đối với muôn dân.

Giáo Hội Như Ítraen Mới

Giáo hội sơ khai đã ý thức là mình thừa kế các lời hứa Thiên Chúa đã nói với Ítraen . Thực ra toàn bộ Cựu Ước là hình bóng giai đoạn chuẩn bị cho Tân Ước (x. 1Cr 10: 6.11); do đó, Giáo hội hiểu rõ mình là dân mới của Thiên Chúa (x. Rm 9: 25-29; 11: 1-5; Gl 6: 16). [3]

Trong công đồng Giêrusalem, thánh Giacôbê nói: “Thưa anh em, xin nghe tôi đây: Ông Simon đã thuật lại cho chúng ta rằng: ngay từ đầu, Thiên Chúa đã đoái thương chọn trong các dân ngoại một dân mang Danh Người. Những lời các ngôn sứ cũng phù hợp với điều ấy...” (Cv 15: 13-14). Ngài thấy là Cựu Ước đã đạt đến mức thành tựu với sự việc dân ngoại trở lại. Phêrô, Phaolô và Barnaba cũng đều tán đồng ý kiến của Giacôbê. Mọi dân tộc đều được kêu mời gia nhập Giáo hội, như Thiên Chúa khôn ngoan đã tiên liệu. Mối kình địch giữa các dân ngoại (tà éthne) và dân riêng (laós) của Thiên Chúa không còn nữa, vì nay mọi tín hữu đều “người đồng hương với các thánh” (Ep 2: 19-20).

Ngay từ đầu, thánh Phaolô đã xác tín rằng những người vốn không thuộc Ítraen, thì nay vẫn có thể trở thành dân Thiên Chúa và được thừa kế các lời hứa Người đã cam kết với Abraham (x. Rm 9: 25-30). Dân mới này chính Ðức Kitô đích thân gầy dựng lấy máu mình chuộc lại: “Quả thế, ân sủng của Thiên Chúa đã tỏ hiện, đem ơn cứu độ đến cho mọi người... chúng ta, Người đã tự hiến để cứu chuộc chúng ta cho thoát khỏi mọi điều bất chính, để thanh luyện chúng ta, khiến chúng ta thành Dân riêng của Người, một dân hăng say làm việc thiện” (Tt 2: 11-14). Ðoạn này ám chỉ đến Xh 15: 13: Như Giavê đã giải phóng Ítraen khỏi Ai cập và làm cho trở thành dân riêng của Người, thì cũng thế, Ðức Giêsu tự hiến mình làm giá chuộc để giải phóng chúng ta khỏi ách nô lệ của tội lỗi.

Dân Ítraen được thiết lập qua giao ước Sinai; Dân mới phát sinh từ giao ước mới, được đóng ấn bằng máu của Chiên vượt qua là Ðức Kitô. Và nếu có một giao ước mới, ắt phải có một lề luật mới và một dân mới. Thánh Phêrô kết luận như sau: “Anh em giống nòi được tuyển chọn, hàng tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người... Xưa anh em chưa phải là một dân, nay anh em đã Dân của Thiên Chúa...” (1Pr 2: 9-10). Theo vị tông đồ này, Giáo hội không những một dân tộc đích thực, nhưng còn dân tộc duy nhất của Thiên Chúa, vì được xây dựng trên hòn đá góc tường duy nhất là Ðức Kitô (x. 1Pr 2: 4-5). Như vậy, Giáo hội sơ khai quả đã thấy mình có những nét đặc trưng của Dân Thiên Chúa, và vì thế thật sự là “dòng dõi Abraham, thừa kế theo lời hứa,” nghĩa “Ítraen của Thiên Chúa” như thánh Phaolô đã viết (x. Gl 3: 9; 6: 16).

“Ítraen của Thiên Chúa” là “Giáo hội của Thiên Chúa,”  một danh hiệu thay thế cho qahal Yhwh trong Cựu Ước. Dân tộc này khác với “Ítraen theo xác thịt” (1Cr 10: 18), vì là một cộng đồng “trong Ðức Giêsu Kitô” (1Tx 2: 14). Ðức Giêsu là nền móng cùng là môi trường sinh sống của Giáo hội; Ngài là “dòng dõi duy nhất của Abraham” (Gl 3: 16), nên “những ai ở trong Ngài” thì đều trở nên dòng tộc của Abraham. Trong thư Galát, thánh Phaolô minh giải rằng đức tin làm cho trở nên con cái Abraham, chứ không phải là xác thịt; Gioan Tẩy giả đã cảnh cáo cho người Do thái biết là Thiên Chúa có thể làm cho những hòn đá trở thành con cái Abraham (x. Mt 3: 9), và vì họ từ chối không chịu tin nhận Ngài, Ðức Giêsu nói là Thiên Chúa đã chuyển vương quốc cho “một dân tộc khác biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi” (Mt 21: 43). Thánh Phaolô đã dám nói thẳng là: “không phải tất cả con cháu Abraham [phát sinh từ Ítraen] đều là dân Ítraen” (Rm 9: 6): vậy, tùy vào lòng tin mà biết đâu là con cái giả và đâu là con cái thật của Ítraen. Vì ý thức như thế, nên các kitô hữu sơ thời đã áp dụng cho Giáo hội các tước hiệu của Ítraen xưa, như: “những người được chọn,” “các thánh,” “những người được yêu thương,” v.v. (Cl 3: 12). Từ eklektoì (“những kẻ được chọn”) đã trở thành tên gọi của các kitô hữu thời đầu (x. Rm 8: 33; 2Tm 2: 10: Tt 1: 1; 1Pr 1: 1; 2:9; 5: 13; 2Ga 1-3).

Tước hiệu “thánh” cũng có ý nghĩa tương tự, tức là công dân của Ítraen thật. Trước hết, có “các thánh” ở Giêrusalem (x. Cv 9: 13) mà tông đồ Phaolô đã đến phục vụ (x. Rm 15: 25). Ngoài thành thánh còn có “các thánh” như ở Lydda (x. Cv 9: 32), ở Giaphô (x. Cv 9: 41), và ở cả các nước ngoại; các tín hữu gốc lương dân cũng là “thánh,” như ở Côlôxê (x. Cl 1: 2), ở Êphêxô (x. Ep 1: 1), Côrintô (x. 1Cr 1: 2), v.v. Như thế có nghĩa là họ là Dân riêng của Thiên Chúa, và dù “họ ở trong thế gian,... nhưng lại không thuộc về thế gian” (Ga 17: 6tt) phàm tục.

“Dân Thiên Chúa” Trong Hiến Chế Lumen Gentium

Buổi đầu, Giáo hội giữ liên lạc mâït thiết với dân Do thái, nên danh xưng “dân Thiên Chúa ” là một cách gọi rất quen thuộc. Nhưng với thời gian, cách gọi như thế đã bị quên dần đi, nhất là ở trong thần học ; cả đến trong phụng vụ cũngï chỉ còn được dùng đến rất ít, rải rác ở một vài nơi. Trong lễ quy Rôma (Kinh nguyện Thánh Thể I), có câu “... chúng con là tôi tớ Chúa cùng toàn thể dân thánh Chúa, kính nhớ cuộc khổ hình hồng phúc...” Thần học cận kim đã phục hồi danh xưng và chủ đề về “dân Thiên Chúa”: nỗ lực này đã được Vaticanô II tiếp nhận và khai triển. [4]

Chương ba của Lược đồ De Ecclesia đã bàn về chủ đề “dân Thiên Chúa và các giáo dân ” qua hai phần: phần một về các giáo dân, phần hai về dân Thiên Chúa. Nhưng trong Hiến chế về Giáo hội thì chương bàn về Dân Thiên Chúa là chương II, tức là sau chương (I) đề cập đến Mầu nhiệm Giáo hội, và trước chương (III) viết về Giáo phẩm. Sự kiện này mang một ý nghĩa Giáo hội học.

Khi gọi Giáo hội dân Thiên Chúa, công đồng muốn nêu bật sự kiện Giáo hội bén rễ vào cả trong lịch sử cứu độ lẫn trong lịch sử loài người: Giáo hội cùng mang thân phận với con người, và sống trong tầm tác động của ảnh hưởng hỗ tương với loài người. “Bụi trần của lịch sử” đã để lại trong Giáo hội những di sản vinh quang cũng không thiếu đen tối cũng quả là nhiều, và Giáo hội nhận trách nhiệm về mọi điều tốt xấu đã do mình tạo ra. Mang tính lịch sử, Giáo hội đang từng bước hình thành, chưa hoàn tất; đã, đang, và sẽ tiếp tục biến đổi; đàng khác, Giáo hội sống cộng sinh với xã hội loài người: Vaticanô II nhận định rằng “Giáo hội biết mình đã nhận được rất nhiều từ nơi lịch sử và đà tiến hóa của nhân loại;” giữa Giáo hội và các nền văn hóa bao giờ cũng một quan hệ trao đổi hỗ tương, với kết quả “Giáo hội có thể được phong phú thêm và thực sự đang được giàu có thêm nhờ đà tiến hóa của cuộc sống hội nhân loại” (GS 44).

Nhưng vì là dân Thiên Chúa, nên trên hẳn chiều kích hội lịch sử, Giáo hội còn và trước tiên, mang chiều kích siêu nhiên nữa: bởi, nếu được Thiên Chúa chọn, thì chính là để  đảm nhận và thực hiện một sứ mạng đối với thế gian. Nói khác đi, một đàng, khác với thế giới, Giáo hội vẫn phải có mặt ở giữa trần gian, và vì thế cùng lúc là đối tượng của thần học cũng như của hội học: cả hai phải đi đôi với nhau.

Dân Thiên Chúa đây là “dân của giao ước mới,” được gây dựng thành chung quanh bàn tiệc thánh. Ðể rời riêng một mình thì khái niệm “dân Thiên Chúa” khó hiểu được, vì thế cần phải được bổ túc bằng khái niệm “thân thể Ðức Kitô.” Dân này không chỉ là một tổ hợp, nhưng còn là một tổng thể sinh động nhờ Thần Khí: Ngài đem lại cho các phần tử cũng cho toàn dân Chúa một hướng năng động siêu việt, nhiệm mầu, thần nghiệm... thể tóm lược như sau các đặc điểm của Dân Thiên Chúa:

“Dân Thiên Chúa có những đặc tính rõ ràng, phân biệt họ với tất cả những tập thể tôn giáo, chủng tộc, chính trị hoặc văn hóa trong lịch sử:

– Họ là dân của Thiên Chúa: Thiên Chúa không là của riêng một dân tộc nào. Nhưng Người tạo cho mình một dân tộc từ những người trước kia không phải là một dân tộc: ‘một giống nòi được tuyển chọn, một hoàng tộc chuyên lo tế tự, một dân thánh’ (1Pr 2:9).

– Người ta trở nên thành viên của Dân này, không phải do huyết thống nhưng ‘được sinh ra từ trên,’ ‘bởi nước và Thánh Thần’ (Ga 3:3-5), nghĩa là nhờ tin vào Ðức Kitô và nhờ Phép Rửa.

– Dân này có vị Thủ Lãnh (Ðầu) là Ðức Kitô (Ðấng được xức dầu, Mêsia), vì cùng được xức dầu bởi một Chúa Thánh Thần, chảy từ đầu xuống thân, nên dân này là dân Mêsia.

‘Thân phận dân này là phẩm giá của những người con tự do của Thiên Chúa: Chúa Thánh Thần ngự trong tâm hồn họ như trong một đền thờ,’

‘Luật của họ là giới răn mới: phải yêu thương nhau như chính Chúa Kitô đã yêu thương chúng ta’ (x. Ga 13:34). Ðó là luật ‘mới’ của Chúa Thánh Thần (Rm 8:2; Gl 5:25).

Sứ mạng của dân này là làm muối đất và ánh sáng thế gian (x.Mt 5:13-16). ‘Dân này là hạt giống tốt nhất giúp toàn nhân loại hiệp nhất, hy vọng và được cứu độ.’

–Cuối cùng, cứu cánh của Dân là ‘Nước Thiên Chúa được khai nguyên trên trần gian và ngày càng lan rộng, cho đến khi được chính Người hoàn tất trong ngày thế mật.’” [5]

Nhân Học Về Dân Thiên Chúa

Trước hết, hãy thử phân tích những yếu tố nhân loại cấu thành Giáo hội. [6]

1. Giáo hội gồm hết mọi tín hữu

Hiến chế tín lý Lumen Gentium nhấn mạnh rằng Giáo hội, trước hết, một cộng đồng hợp thành do bởi hết thảy mọi tín hữu. Và chỉ sau đó, mới có thể phân biệt để nói đến những thành phần khác nhau như: giáo phẩm , giáo sĩ , tu sĩ , v.v. Xét về mặt cá nhân cấu thành, Ðức Giáo Hoàng cũng là một phần tử trong Dân Thiên Chúa, là không hơn không kém, một tín hữu như bất cứ tín hữu nào khác. Giáo hội sơ khai đã dùng tưø laós, “dân,” để tự xưng tên của mình và để phân biệt mình với các lương dân. Khoảng chừng thế kỷ thứ ba, trong Giáo hội đã bắt đầu thấy có sự kiện phân biệt giáo dân với giáo sĩ, và dùng từ “dân” (populus) để chỉ riêng về giáo dân; rồi đà phân biệt đó đã dần dần đi đến chỗ tách biệt hai phía thành ra những “giai cấp” khác nhau. [7]

“Dân Thiên Chúa” nói lên một khái niệm căn bản: với tính cách là chi thể của Ðức Kitô, mọi tín hữu đều bình đẳng như nhau. Trong Giáo hội, “mọi người đều có Ðức Kitô làm Ðầu ” (LG 9). Những khác biệt trong Giáo hội, dù có thật, nhưng nếu hiểu theo nhãn quan của quyền bình đẳng căn bản ấy, thì cũng chỉ là phụ thuộc, chỉ trong bình diện chức vụ và phận sự. Giáo hội không phải đơn thuần là giáo phẩm, không chỉ gồm có giáo phẩm, và cũng chẳng phải là của giáo phẩm.

Mọi kitô hữu đều nhận được những ân huệ khác nhau của Thánh Linh, nhưng chỉ với một mục đích chung xây dựng Thân thể [Ðức Kitô] và phục vụ lẫn nhau (x. 1Cr 14: 3.5.12; 2Cr 12: 19; Ep 4: 12.29). Nhiệm vụ căn bản của Dân Chúa là sống hiệp thông trong mọi sự, chia sẻ mọi sự với nhau (x. 1Cr 12: 26), để vinh quang Thiên Chúa tỏa sáng và để phục vụ mọi anh chị em.

Hàng giáo (trong tiếng Hy, La: klễros, clerus , nghĩa là phần riêng, lãnh vực riêng) đã lãnh nhận thiên chức đặc biệt để phục vụ. Nhờ thiên chức này, hàng giáo sĩ trở nên những “chuyên viên phục vụ” trong Giáo hội. Họ thể sống nhờ công lao phục vụ của mình (x. Lc 10: 7; 1Tm 5: 18), tuy nhiên không phải vì vậy mà đi khai thác Giáo hội như “của riêng mình.” Giáo phẩm có phận vụ chia sẻ “bánh Lời Chúa” với anh chị em, phân phát các tích, cùng sống những điều kiện trong trạng huống chung của cuộc sống cộng đoàn, và tự hiến mình cho dân Chúa (x. 2Cr 12: 14-15).

2. Giáo hội hợp thành từ những con người yếu đuối

là “dân thánh của Thiên Chúa,” Giáo hội vẫn “ôm ấp những kẻ tội ở trong lòng mình... nên phải không ngừng tự thanh luyện mình” (LG 8c). Bao lâu còn đi trên đường lữ thứ trần gian, thì bấy lâu Giáo hội vẫn còn tiến bước giữa những cám dỗ đau thương, hằng ý thức rằng bất cứ tín hữu nào, dù ở địa vị nào, thì cũng đều có thể sa ngã hệt như Ðavít hay Phêro â vậy.

Như xưa kia, Ítraen thèm thuồng những nồi thịt, những củ hành củ tỏi của Ai cập; thì ngày nay, Giáo hội cũng bị cám dỗ thèm khát những đặc quyền đặc ân của hàng quý phái, muốn có quyền bính tựa như một cường quốc, hoặc  muốn giữa độc quyền về ân sủng và chân lý. Các tiên tri đã phải chiến đấu chống lại những cám dỗ ấy trong Ítraen , cám dỗ thường được các tiên tri giả khích động thêm (x. Gr 23: 9-22), và Ítraen đã không chịu lắng nghe các tiên trị thật (x. Is 42: 18tt). Trong Giáo hội cũng có những tiên tri giả, mà Ðức Giêsu đã cảnh cáo phải coi chừng (x. Mt 24:24t). Mỗi thế hệ đều những hạng thày giả, ăn nói bùi tai dân chúng (x. 2Tm 4: 3), rao giảng một thứ phương thức cứu độ dễ dãi nhưng lại... sai lầm.

Do đó, bao giờ Giáo hội cũng phải ý thức về thực trạng hữu hạn tội lỗi của mình, biết rằng mình đang trên đường tìm kiếm chứ chưa chiếm hữu trọn được chân lý toàn vẹn, và cần phải tự thanh luyện không ngừng, nhờ thống hối và canh tân. Lịch sử Giáo hội ghi đậm đầy dẫy những sơ sót, phản bội, lầm lẫn, xảo trá... của các con cái Thiên Chúa! Giáo sĩ nhan nhản “chưng bày” những ghen tị, tham vọng; còn giáo dân thì lắm lúc chỉ biết sống đạo theo hình thức, theo lối tín, hoặc là cứ mãi mập mờ, vô tri thức trước những điểm cơ bản trong nội dung giáo lý đức tin; rồi hai phía lại còn ngờ vực lẫn nhau!

Tuy nhiên, những người yếu đuối ấy cũng biết khiêm hạ nhìn nhận những khiếm khuyết của mình và hằng ra sức tiến lên trên đường thánh thiện. Trong Giáo hội, không bao giờ là không có những người thánh.

3. Chiều kích xã hội

Như mọi con người, người kitô cũng sống chiều kích xã hội. Chính ơn cứu độ của Ðức Kitô cũng mang tính chất xã hội: “Thiên Chúa không muốn thánh hóa cứu rỗi loài người một cách riêng rẽ, nhưng Nguời muốn quy tụ họ lại thành một dân tộc...” (LG 9a). Ơn cứu độ đã kết tinh trong một cơ chế, một cộng đoàn xã hội, trong dân Chúa là “bí tích hữu hình của sự hiệp nhất.” Mỗi người chịu trách nhiệm không những đối với chính bản thân của mình, nhưng còn đối với hay theo tương quan liên đới với hết mọi anh chị em khác nữa, tức điều xấu một người gây ra sẽ ảnh hưởng xấu đến các anh chị em khác; và ngược lại, làm tốt thì tạo ảnh hưởng tốt cho tất cả. Ngoài ra, đã là tương quan liên đới tất có qua có lại, có gây/làm ra và có chịu/nhận vào những hậu quả của những chuyện tốt xấu của nhau.

Như thế, Giáo hội được cấu tạo nên bởi những tương quan biện chứng giữa cá nhân và cộng đoàn, giữa đức tin và việc cam kết cụ thể, cũng như giữa đời sống của dân Chúa kinh nghiệm thiêng liêng của mỗi phần tử: vậy, cần phải lưu ý tới cả hai phía và phải giữ quân bình đúng đắn giữa hai thái cực. Nếu nhấn mạnh quá về mặt xã hội, thì thể làm cho Giáo hội thành một quốc gia trong quốc gia, sẽ bóp nghẹt sức phát khởi tự nhiên của các tín hữu, cả trong tư cách là giáo dân lẫn trong tư thế là công dân. Ngược lại, nếu đi quá xa theo hướng cá nhân, thì lại dễ bị rơi vào lối sống đức tin theo kiểu cá nhân chủ nghĩa, tức là cứ để mặc cho mỗi người dựa theo lương tâm của mình mà quyết định lấy một mình trong việc sống đạo, bất chấp chân lý khách quan và nhu cầu của các anh chị em khác; từ thái độ này sẽ phát sinh những gương mù và bè phái (x. Mt 18: 6-7; Rm 14: 3.21; 1Cr 8: 13,v.v.). Càng sống xã hội tính của cộng đoàn (Giáo hội tính), thì người kitô càng lớn lên trong bản thân của nhân mình. Giáo hội không phải một hội đoàn đơn thuần hình thành do bởi ý muốn của các phần tử. Bởi, là một thân thể, Giáo hội có trước những chi thể: Giáo hội lớn lên từ Ðầu Ðức Kitô. Nói khác đi, Thiên Chúa mời gọi mỗi người gia nhập Giáo hội. Không có ơn gọi làm người kitô ở ngoài Giáo hội: một kitô hữu đơn độc, riêng lẻ là một điều mâu thuẫn. Rồi cũng khỏi cần phải nói chi đến những người kitô ngang nhiên đứng lên chống lại Giáo hội!

Mọi thành phần Dân Chúa đều bình đẳng

Sở dĩ trong Hiến chế Lumen gentium, chương (II) bàn về Dân Thiên Chúa đã được đặt trước chương (III) đề cập đến Hàng Giáo phẩm, thì chính là để nêu bật sự bình đẳng cơ bản trong Giáo hội. [8]

 “Thế nên, chỉ một Dân Thiên Chúa được Người tuyển chọn: ‘chỉ có một Thiên Chúa, một đức tin, một phép rửa’ (Ep 4: 5)... Các chi thể chung hưởng cùng một phẩm giá vì đã được tái sinh trong Chúa Kitô, cùng một ân huệ được làm con cái, cùng một ơn gọi trở nên trọn lành, cùng một ơn cứu độ, cùng một niềm hy vọng duy nhất và một đức ái không phân chia. thế trong Chúa Kitô và trong Giáo hội, không còn sự hơn kém về nguồn gốc hay dân tộc, về địa vị hội hay giới tính, lẽ ‘không còn chuyện phân biệt Do thái hay Hy lạp, nô lệ hay tự do, nam hay nữ, bởi anh em hết thảy chỉ là một trong Chúa Giêsu Kitô’ (Gl 3: 28; x. Cl 3: 11)” (LG 32b).

1. Ðức Kitô là Ðầu

Ðó phẩm tính đầu tiên của Dân Thiên Chúa, đặc điểm phân biệt dân dân mới. về phương diện Giáo hội học, đó cũng là dấu gạch nối giữa hai hình ảnh, tức là Dân Thiên Chúa và Thân thể Ðức Kitô.

Trong thời Cựu Ước, muốn gia nhập dân Thiên Chúa thì phải tin vào Giavê và chịu cắt bì. Còn bây giờ là lúc “thời gian đã viên mãn,” thì điều kiện gia nhập lại được gióng lên với sứ điệp: “hãy hối cải tin vào Tin mừng” (Mc 1: 15). Tin mừng này loan báo cho biết rằng Ðấng “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta” của lời hứa xưa chính là Ðức Giêsu Kitô. Tin vào Ngài có nghĩa là tin vào chính Giavê: “Nếu các con tin vào Thiên Chúa thì cũng hãy tin vào Thầy” (Ga 14: 1). Ítraen dân tộc Giavê đã đắc thủ cho Ngài (Tv 74: 2); còn Giáo hội là dân tộc mà Ðức Kitô “đã mua chuộc bằng giá máu của chính mình” (Cv 20: 28). Trước kia, Giavê là thủ lãnh từ bi của dân Ngài (x. Xh 15: 13) và là thủ lãnh duy nhất (x. Ðnl 32: 12); còn bây giờ, Ðức Kitô thủ lãnh độc nhất (x. Mt 2: 6), là Ðầu của Giáo hội. Ðang trên đường lữ hành, dân mới này tiến theo bước Vị Lãnh Ðạo của mình là Ðức Kitô.

Vậy, Ðức Kitô là thủ lãnh, là Ðấng phát khởi, là “Ðấng khai mở và kiện toàn đức tin” (Dt 12: 2), “vị lãnh đạo thập toàn dẫn đưa... tới nguồn ơn cứu độ” (Dt 2: 10): có theo Ngài, thì các tín hữu mới nên xứng đáng với Ngài (x. Mt 10: 38). Tựa như đoàn chiên đi theo mục tử (hình ảnh tuyệt hảo về một dân tộc), thì những “con chiên” bước theo Ðức Kitô là Mục tử nhân lành (x. Ga 10: 4tt). Về phương diện này, trong Giáo hội (“đoàn chiên”), mọi giáo hữu đều như nhau: tất cả đều phải bước theo Ðức Kitô cho đến cùng đích chung, sự “thánh thiện không giai cấp” của Giáo hội (LG 39-40). Mọi người đều đã chịu cùng một phép Rửa làm cho họ thành công dân của Dân này. Mọi người đều lãnh nhận cùng một Thần Khí (Thần Khí của Ðức Kitô) và nhờ Ngài họ trở nên anh chị em của nhau trong Ðức Kitô: tất cả đều đã “nên đồng hình đồng dạng với” Ðức Kitô (x. Rm 8: 29). Như xưa, các hoàng đế hay các vị danh tướng ghi ấn dấu riêng lên trên binh lính hoặc gia nhân của mình, thì Ðức Kitô, Vị Lãnh Ðạo, cũng đóng ấn của Ngài trên mỗi phần tử của Dân Ngài (“Dấu” ở đây có nghĩa là Thần Khí: x. 2Cr 1: 22; Ep 1: 13; 4: 30). Sách Khải huyền trình tả về Dân mới này của các tôi tớ Thiên Chúa, của những người đã được đóng ấn trên trán: tổng số là 144 ngàn từ mọi chi tộc Ítraen (x. Kh 7: 3-4): con số được coi là hoàn hảo. “Ấn tín” này là tên gọi của chúng ta: vì Ðức Kitô là thủ lãnh, nên chúng ta được mang danh tước là kitô hữu.

Danh hiệu “kitô hữu” đem lại phẩm giá chung cho tất cả mọi tín hữu trong Giáo hội, trước khi xét đến các chức vụ. Công đồng trích lời thánh Augustinô nói rằng: “Tôi sợ hãi khi nghĩ mình là gì đối với anh em, nhưng lại được an ủi khi nghĩ mình là gì cùng với anh em. Vì đối với anh em tôi là giám mục ; nhưng cùng với anh em tôi là kitô hữu. Giám mục là danh tước do chức phận, kitô hữu là danh hiệu do ân sủng. Làm giám mục là một mối nguy, còn làm kitô hữu là được cứu độ.” [9] Thánh Lêô Cả cũng đã thốt lên: “Hỡi kitô hữu, hãy nhận biết phẩm giá của mình” (PL 54.192). Còn công đồng thì xác định là: “Tất cả những ai thuộc về Dân Thiên Chúa, đều được hưởng phẩm giá kitô hữu đích thực” (LG 18a). Tóm lại, quyền bình đẳng trong Dân Thiên Chúa là một đặc ân cao quý phát nguyên từ sự nghiệp cứu độ phong phú Ðức Kitô đã hoàn thành, và mọi kitô hữu đều cùng được chia sẻ.

2. Phẩm giá và tự do của con cái Thiên Chúa

Phẩm giá căn bản của người kitô là được làm con cái Thiên Chúa trong và nhờ Ðức Kitô. Sự kiện này làm cho thánh Gioan ngỡ ngàng chia sẻ: “Hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào, đến nỗi chúng ta được gọi là con Thiên Chúa, và thực sự là như thế” (1Ga 3: 1). Làm con cái Thiên Chúa có nghĩa là kitô hữu đã nhận được một bản tính mới, như thánh Phêrô viết: “anh em đã được tái sinh, không phải do hạt giống mục nát, mà do hạt giống bất diệt, nhờ Lời Thiên Chúa hằng sống” (1Pr 1: 23), “nhờ đó anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa” (2Pr 1: 4). Vì thế, thánh Gioan gọi Phép Rửa cuộc tái sinh bởi nước Thánh Thần (x. Ga 3: 5-6). Căn cứ vào “bản tính” mới ấy, Giáo hội đủ lý do để tự xưng Dân tộc mới đã được tuyển chọn, còn các kitô hữu thì ý thức rõ là mình được hưởng quyền tự do của người con (x. Rm 8: 21).

“Tự do” đối nghịch với “nô lệ.” Ðức Kitô đã giải phóng chúng ta khỏi ách tội lỗi (x. Rm 6: 15tt) lề luật (x. Gl 5: 1tt), cũng như khỏi lề luật và hình phạt của tội lỗi cùng sự chết (x. Dt 2: 15). Thật vậy, bạo quyền tệ hại nhất là bạo quyền của tội lỗi: nó trói buộc con người vào vòng nô lệ (x. Rm 6: 20; 8: 2, v.v.). Bất cứ lối giải phóng nào, nếu không đưa con người ra khỏi ách tội lỗi, thì đều là giải phóng giả hiệu, ách lệ chính hiệu vẫn còn nguyên. Ðức Giêsu nói: “Nếu người Con có giải phóng các ông, thì các ông mới thực sự là những người tự do” (Ga 8: 36). Tự do Ðức Kitô ban là tự do trong sự thật: lầm lạc, lừa đảo, cuồng tín... chỉ làm nền, làm môi trường sinh sôi nẩy nở cho tình trạng tôi đòi; thế, Ðức Giêsu nói thêm: “Sự thật sẽ giải phóng các ông” (Ga 8: 32). Là nhầm lớn những ai tưởng rằng mình càng biết ít (về luật lệ, về giáo lý) thì càng được tự do làm gì thì làm mà lương tâm vẫn yên tâm, “bình an...” Tự do Kitô giáo chỗ dấn thân, chứ không phải do ở sự việc không cam kết: tự do vì dám đảm nhận trách nhiệm, chứ không phải vì khéo lẩn tránh trách nhiệm; tự do nhờ thành thật, chứ không phải là nhờ giả hình. Tự do kitô không chỉ là “tự do khỏi bị...” mà còn là “tự do để được...”

Vậy thì ai là người tự do? Câu trả lời thông thường là: người tự do người đã thoát khỏi vòng bạo quyền chính trị; đó là tự do của công dân. Triết gia khắc kỷ thời xưa sẽ trả lời: tự do là tự chủ, là thoát khỏi ách của đam cảm xúc; đó chỉ là tự do bên trong. Ngộ giáo sẽ trả lời: tự do là nhờ đạo giáo mà thoát khỏi quyền lực của “những yếu tố vũ trụ” chi phối trần gian. Ðành rằng tự do là rất phức tạp, tuy nhiên, không vì thế mà bó tay chịu trận, không dám tìm hiểu.

“Tự do khỏi...” Trước hết, con người thường bị ràng buộc bởi chính mình, bởi những thèm muốn, thói quen, khuynh hướng... riêng của mình; thánh Phaolô cũng đã kể lại kinh nghiệm nhân của ngài về điểm này (x. Rm 7: 18-24). Có người – và không thiếu! – lại còn rơi vào vòng nô lệ của thế gian: giàu sang, danh vọng, quyền thế, ý thức hệ, v.v. Ðức Giêsu nói: “Ai phạm tội là nô lệ của tội” (Ga 8: 34).

Lề luật cũng có thể trở thành một bạo chúa, như thấy rõ qua kinh nghiệm dân Do thái. Trong thư Galát, thánh Phaolô trình bày giáo huấn về chủ đề này: Ðức Kitô đã giải phóng chúng ta khỏi ách của Luật (Luật Do thái). Bây giờ, chúng ta không còn sống dưới chế độ của lề luật, là của ân sủng. Từ nguyên tắc này, tông đồ đã rút ra kết luận: “Tôi được phép làm mọi sự,” nhưng ngài thêm là: “Tôi sẽ không để sự gì làm chủ được tôi” (1Cr 6: 12). Cần phải có lề luật: cho quốc gia cũng như cho Giáo hội. Thánh Phaolô nói: “Lề luật thánh” (Rm 7:12)... ngài nghiêm cách dạy là: “mỗi người phải phục tùng chính quyền...” (Rm 13:1; x. 1Tm 2: 2), và phải vâng phục những vị lãnh đạo trong Giáo hội (Dt 13: 17); nhưng là với tinh thần mới, vì chúng ta làm mọi sự theo “luật Ðức Kitô” (Gl 6: 2). Thánh Gioan nói: “tội lỗi là ‘phi luật’ (anomía)” (1Ga 3: 4). [10]

Tuy nhiên, Lề Luật cũng có thể nghẽn tinh thần: “văn tự thì giết chết” (2Cr 3: 6). Người kitô tự do biết rằng Lề Luật phải nhường bước cho tinh thần. [11]

Tự do – tức là giải thoát – khỏi cả sự chết nữa ư? Người kitô hay người thần hiển nhiên như nhau: ai ai cũng đều phải chết. Tuy nhiên, sự chết thể lý có liên quan huyền nhiệm với tội lỗi, vaø chính Chúa Kitô đã hủy trừ mối liên hệ đó. Còn sự chết thiên liêng thì thánh Phaolô gọi là “lương bổng mà tội lỗi trả” (Rm 6: 23), và cảnh cáo: “Nếu anh em sống theo xác thịt thì sẽ phải chết” (Rm 8: 13). Ðức Kitô đã giải phóng chúng ta khỏi sự chết theo hai phương diện ấy: khi sống lại Ngài đánh thắng thần chết, kể cả cái chết thể lý của xác thịt, và do đó giải phóng chúng ta khỏi mối lo âu sợ hãi trước cái chết. Trong phép Rửa chúng ta trở nên một với Ðức Kitô trong sự chết để cũng được nên một với Ngài trong sự sống lại (x. Rm 6: 5-9; 1Cr 15: 20-22). Nhờ sống hy vọng như thế, người kitô không còn coi sự chết như là “kẻ thù vô địch,” không còn phải sợ hãi trước cái chết; trái lại, lúc đó sự chết thể biến thành “tin mừng” như thánh Phao-lô nói: đối với tôi chết là một thắng lợi (x. Pl 1: 21), trước tiên là vì có qua cửa chết mới vào tới nhà Cha, và thứ đến là chết mới điều kiện để được sống lại vinh hiển. Chẳng thế mà thánh Phaolô đã hiên ngang thốt lên: “Hỡi tử thần, đâu là chiến thắng của ngươi? Hỡi tử thần, đâu là nọc độc của ngươi?” (1Cr 15: 54). Một khi không còn sợ nữa, tất người kitô được hoàn toàn tự do (x. Rm 8: 31-39).

Tự do của người kitô cũng còn tùy vào thái độ căn bản xác đáng đối với của cải muôn vật: đó là kết quả của việc biết dựa theo ánh sáng đức tin mà nhận thức đúng mức về giá trị thật của mọi sự vật và sự việc; tiêu cực mà nói, đó thái độ không dính bén đối với mọi sự (x. 1Cr 7: 29-31), và tích cực mà nói, thì đó là thái độ chấp nhận Ðức Kitô làm chủ toàn bộ cuộc sống chúng ta; còn Ngài: Ngài sẽ làm cho chúng ta nên chủ của mọi sự (x. 1Cr 3: 21-23). Không còn gì là cấm kị đối với những ai sống trong tình yêu của Ðức Kitô.

Tuy nhiên, tự do không có nghĩa là phóng túng (x. 4). Trước hết, tự do con người là tự do của một tạo vật; chỉ một mình Thiên Chúa mới có tự do tuyệt đối. Tự bản tính, con người là hữu hạn và bị giới hạn: do khả năng ít ỏi, do cảnh huống thời gian và không gian, do di truyền... và nhất là do những người khác. Thánh Phaolô khuyên: “Anh em đã được gọi để hưởng tự do; có điều là đừng lợi dụng tự do để sống theo tính xác thịt, nhưng hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau” (Gl 5: 13). Hơn nữa, mạc khải còn giúp cho hiểu ra cái nghịch lý nơi con người: con người chỉ toàn vẹn hoàn thành chính mình khi biết tự hiến mình cho người khác, chỉ chiếm được chính mình khi dám đánh mất mình đi, chỉ sống được khi dám chịu chết đi... (x. Mt 10: 38; Ga 12: 25). Thì tự do cũng vậy: con người chỉ được giải phóng hoàn toàn khỏi những quyến rũ ràng buộc khi biết chấp nhận làm tôi tớ phục vụ sự công chính (x. Rm 6: 17-18), hoặc là nói như thánh Giacôbê, khi “tuân giữ luật trọn hảo của tự do” luật Chúa (Gcb 1: 25): luật này hệ tại ở chỗ chọn lấy điều thiện, dấn thân cho Ðức Kitô trong anh em, luyện mình nên người hoàn hảo theo hình ảnh Ðức Kitô, là con người hoàn hảo (GS 22).

Cuối cùng, còn phải hỏi tiếp là: Giáo hội có phải là một môi trường tự do không? Có nhiều anh chị em không cảm thấy tự do trong Giáo hội! Dĩ nhiên là phải có những người cầm đầu (x. Cv 20: 28; Rm 12: 8; 1Cr 12: 28; Dt 13:  17, v.v.), có những thầy dạy (x. 1Tm 2: 7; Ep 4: 11, v.v.), có những người cha (x. 1Cr 4: 15)... nhưng trên hết, mọi người đều anh em và phải tỏ ra là như thế (x. Mt 23: 8). Cần phải có luật, vì luật vốn tốt (x. Rm 7: 12.14), nhưng người có cảm tưởng là luật điều đã có quá nhiều rồi. Ðó là chưa nói đến thái độ nệ luật quá đáng đến độ bóp ngạt mất những tài năng và sáng kiến. Rồi khi còn nhân danh một quan niệm hẹp hòi về chân lý mà nghi ngờ các nhà thần học và chú giải, làm cho họ phải bỏ dở công tác nghiên cứu. Trong nhiều tầng lớp và phạm vi, quả Dân Thiên Chúa còn mang không phải là ít vết hằn của não trạng nô dịch. Bao lâu Giáo hội còn giữ cái “dạng thể do cuộc cải cách Grêgôriô nắn nên” [12] thì bấy lâu vẫn còn khó mà thực sự trở thành dấu chỉ tự do cho thế giới được. [13]   

3. Lề Luật: Yêu mến như Ðức Kitô đã mến yêu (LG 9b)

Dân Ítraen có luật do Giavê lập; dân mới cũng có “điều răn mới” của Ðức Kitô (Ga 13:34); công đồng Vaticanô II đã có dịp nhắc lại điều đó. Sở dĩ con người có bản tính xã hội là vì được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa: một Thiên Chúa Ba Ngôi; mà dây nối kết Ba Ngôi chính là Tình yêu, cho nên tình yêu cũng phải là dây kết hợp phần tử trong loài người thành một xã hội. Triết gia Aristốt cái nhìn rất đúng khi cho rằng, để sống với đồng loại, người văn minh cần quý chuộng và trao đổi tình bạn. Nói đến tình nghĩa là nói đến chia sẻ, cho đi; vì thế, thái độ ích kỷ, chỉ biết giữ chặt lấy của cải cho một mình mình, sẽ làm cho sợi dây liên kết trong xã hội bị cắt đứt đi.

Chúa Giavê muốn chữa lành vết thương ấy nên đã ban bố luật yêu thương: “Hãy yêu mến người thân cận như chính mình” (Lv 19:18; x. Mc 12: 31; Rm 13: 9; Gl 5: 14; Gcb 2: 8). Lòng ích kỷ đã từng thu hẹp luật này lại bằng cách giải thích “thân cận” là đồng bào của mình. Chúa Giavê lại phải sửa sai: “Hãy đối đãi ngoại kiều như đồng loại:” (Xh 23: 9; x. Lv 19: 33; Ðnl 10: 19). Một lần nữa, con người tiếp tục bóp méo lý tưởng của Thiên Chúa bằng cách tìm cớ để phân tách, chia rẽ (x. Ðnl 23: 3-6; Ps 139: 21-22); nhưng Chúa Giavê vẫn một mực dạy là: Hãy giúp kẻ thù, nếu gặp con bò của kẻ thù đi lạc thì hãy dẫn dắt cho chủ nó, đừng làm ngơ nếu thấy lừa của kẻ thù bị rơi xuống hố (x. Xh 23: 4-5).

Ðức Giêsu nhấn mạnh là phải yêu kẻ thù, để nên giống như Cha trên trời là Ðấng ban phát ơn lành cho hết thảy mọi người không phân biệt lành dữ (x. Mt 5: 44-45). Thế thì, so với Cựu Ước, có gì mới lạ hơn đâu? Có mới ở chỗ bây giờ là luật của con cái Thiên Chúa (noi gương Cha trên trời) và cần phải lấy lòng hiếu thảo tử hệ mà thi hành; vì thế, Ðức Giêsu dạy: “Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13: 34), tức là noi theo gương người Con! Hơn nữa, điều mới lạ là khi yêu mến người khác, không những người kitô yêu mến giống Ðức Giêsu, nhưng còn yếu mến chính Ngài nữa, vì Ngài đồng nhất hóa chính mình với mọi người, với những anh em hèn mọn nhất (x. AA 8b). Tình yêu này bắt nguồn từ bản tính mới người kitô lãnh nhận khi chịu phép Rửa. Thật ra, “nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta, Thiên Chúa đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta” (Rm 5: 5): đó là tình Chúa yêu ta, chứ không phải tình ta yêu Chúa. Vậy, nếu biết giữ vững và sống thật tình yêu ấy, thì chúng ta sẽ yêu mến với tình thương của chính Thiên Chúa; hoặc nói cách khác, Thiên Chúa yêu mến qua tấm lòng của các con cái Người. Cho nên, điều quan trọng không phải ở chỗ người kitô giữ tương quan với người này hay người kia, cho bằng ở chỗ họ giữ quan hệ mật thiết với Thiên Chúa. Người là Cha của họ và hằng muốn cứu rỗi hết thảy mọi người trong nhân loại (x. 1Tm 2: 4); thế nên, Người muốn nhờ con cái mình tỏ tình yêu ấy cho hết mọi người. Không phải vì con người đáng yêu nên được Thiên Chúa yêu thương, nhưng phải nói ngược lại: chính nhờ được Thiên Chúa yêu thương nên con người trở thành đáng yêu: tình yêu của Chúa là ân huệ thuần túy sáng tạo. Vì vậy, người kitô yêu mến người khác, chủ yếu không phải là họ tốt, nhưng là để nhờ tình mến ấy, họ trở nên xứng đáng với tình yêu (x. Ga 4: 4tt).

Những suy tư trên đây có thể xem ra là chuyện tưởng, chỉ dành cho các bậc thánh sống. Sống thật như vậy thì thế gian cho là điên dại (x. 1Cr 1: 23). Ngoài ra, lịch sử lại còn chứng tỏ cho thấy là mẫu “luật” kia đã làm như thất bại, chưa bao giờ Giáo hội đã thực sống toàn vẹn lối sống như thế.

Ðó chính là thảm cảnh! Và đó cũng là tội của Giáo hội. Thế nhưng, dẫu sao đi nữa thì Giáo hội cũng không thể bỏ rơi tưởng kia được: bởi bỏ nó đi là phản bội Ðức Kitô! Thế hệ nào rồi cũng phải cố sống thế một lần nữa, để cho thế gian được cứu rỗi.

Công đồng trích dẫn tiên tri Giêrêmia chép rằng: “... ta sẽ khắc luật pháp ta trong tâm can chúng, sẽ ghi chép vào con tim chúng” (LG 9a, Gr 31: 31-34). Nghĩa là luật tình yêu ấy không phải một cái gì ghép thêm từ bên ngoài, nhưng là cái tự phát từ nội tâm. Mặt khác, thánh Phaolô nói rằng đó là hoa trái của Thánh Linh đã được ban cho chúng ta (x. Rm 5: 5; 15: 30; Col 1: 8, v.v.), Thánh Linh mà Vaticanô II gọi là “linh hồn” của Giáo hội (LG 7g [14] ): nếu bỏ luật tình yêu đi, thì Giáo hội sẽ như xác không hồn. Tình yêu tiềm chứa sức năng cả dám liều mình gánh nhận nguy cơ; luật pháp loài người (luật đời cũng như giáo luật ) nhằm mục đích chủ yếu làm cho giảm đi những nguy cơ, những liều lĩnh; lề luật ấy bảo đảm trật tự, dự phòng mọi tình huống ngộ biến xẩy ra, nên không thích sự tự phát, không dành chỗ cho tình yêu. Trong Giáo hội, những luật nhân tạo bao giờ cũng chỉ là việc làm “cực chẳng đã.” Luật tình yêu của con cái Thiên Chúa mang sẵn trong mình nguy gây xáo trộn; nhưng biết đâu một Giáo hội ít trật tự mà nhiều tình yêu hơn lại chẳng là một Giáo hội tốt hơn.

VI. Dân Thiên Sai Ðang Trên Ðường Lữ Hành

Hiến chế Lumen gentium gọi Giáo hội “Dân Thiên sai ” (LG 9b), nghĩa là dân của Ðấng Thiên sai , của Ðức Kitô. Dân tộc này ở vào “thời đại cuối cùng,” đang tiến bước giữa lòng lịch sử loài người với sứ mạng của Ðức Kitô, cũng như đang sống thân phận lữ hành hướng tới thời hoàn tất cánh chung. [15]

“Thiên sai” có nghĩa là gì? Ðó thành ngữ dịch từ Mêsia (Hypri) hoặc Khristós (Hylạp), tức là “Kitô,” nghĩa được “xức dầu,” và chỉ về nhà vua Ítraen trong tư thế là vị đại diện của Giavê (x. 1Sm 9:16). Những lúc gặp khủng hoảng, dân Ítraen hằng hy vọng Chúa Giavê sẽ sai một “Vị được xức dầøu” (Thiên sai) để phục hồi tình trạng thịnh vượng an bình; niềm hy vọng ấy biểu hiện qua nhiều hình thức khác nhau. [16] Ngày nay, trong những tiếng nói châu Âu đã thành tục hóa, từ ngữ này được dùng để chỉ những phong trào “giải phóng” cả tôn giáo lẫn chính trị; nhưng vẫn quy chiếu về với truyền thống Do thái-Kitô. Vậy, dựa theo truyền thống ấy, một tác giả đã định nghĩa “phong trào giải phóng cứu tinh” như thế này: đó là “viễn cảnh về một thế giới công bằng và hạnh phúc (chiều kích nhân học), mà lời hứa của Thiên Chúa làm cho trở thành một khả năng khách quan (chiều kích thần học ); nhờ lòng vâng phục, con người được Thần Khí đổi mới (chiều kích thần khởi và đạo đức học), và được mời gọi để hiện thực hóa viễn cảnh ấy.” [17] Ðó là cả một chương trình đã được trao phó cho Giáo hội.

Giáo hội là thân thể của Ðấng được xức dầu (Mêsia, Thiên sai), tức là Dân thiên sai vậy. Ðược xức dầu do chính Thần Khí xuống trên nhóm tông đồ (x. Cv 2), và mọi phần tử cũng đều được xức dầu qua các bí tích Rửa tội và Thêm sức . Mãi cho đến hồi thế mạt, Giáo hội có bổn phận phải tiếp tục thực thi sứ mạng Ðức Kitô đã trao phó.

Trước hết, Dân Thiên sai mang trong mình một niềm hy vọng: “Vì thế, tuy hiện nay chưa bao gồm hết toàn thể nhân loại và đôi khi còn tỏ ra như là một đàn chiên nhỏ, thì dân tộc thiên sai ấy cũng vẫn là mầm mống đầy sức năng nhất của hiệp nhất, hy vọng ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại” (LG 9b). Trong một thế giới lộ rõ thất vọng, lạc mất hướng, lẫn lộn giá trị nhân văn với siêu việt, dân kitô phải xác tín làm chứng cho những giá trị ấy. Như thế nào? Sắc lệnh về Tông đồ giáo dân nhận định: “Tự bản chất của chúng, một số công việc có thể biểu lộ tình yêu cách sống động. Chúa Kitô đã muốn những việc đó làm dấu chỉ cho sứ mệnh thiên sai (x. Mt 11: 4-5)” (AA 8a); và tiếp sau đó văn kiện đã nhắc đến những công việc Ðức Giêsu đã thực hiện cho người khác. Sắc lệnh về đời sống linh mục xác định cụ thể hơn: Chúa Kitô lấy “việc rao giảng Phúc âm cho những người nghèo khổ và yếu đuối làm biểu chứng cho công tác thiên sai” (PO 6c). Là Dân thiên sai, Giáo hội có bổn phận trở nên “một dân cho muôn dân,” nghĩa là dấn thân cho mọi người được sống như Thiên Chúa muốn; hoặc nói cách khác, cho vương quyền Thiên Chúa đến được với họ. Năng lực của Dân Thiên Chúa mang tính chất ly tâm, tức hướng về với các dân khác trong muôn dạng dịch vụ, nhằm xây dựng Nước Chúa giữa họ, ngõ hầu họ cũng hưởng được ơn công chính, niềm hạnh phúc bình an (shalom), bởi Ðức Giêsu đã tậu chuộc họ. Thế giới hiện nay đang trở nên ngày càng thống nhất hơn; Giáo hội là “bí tích” của sự hiệp nhất và hiệp thông trong toàn thể gia đình nhân loại (LG 1; GS 45a).

Bởi là Dân thiên sai “tự bản tính, Giáo hội lữ hành là truyền giáo (AG 2a). Phải cất cao tiếng rao truyền cho thiên hạ nghe biết Tin mừng cứu độ. Kinh Thánh gọi Ðấng Thiên sai “niềm hy vọng của muôn dân” (Mt 12: 21; Rm 15: 12); giờ đây Dân thiên sai phải quyết tâm sống và hành động làm sao để có thể đưa Ðức Kitô đến với những ai “không có niềm hy vọng” (1Tx 4: 13). Ấy công trình của toàn thể Dân Chúa: “Giữa tất cả các tín hữu vẫn có bình đẳng thật sự, bình đẳng về phương diện phẩm giá hoạt động chung của mọi tín hữu nhằm xây dựng thân thể Chúa Kitô” (LG 32c). Ðức Kitô muốn Giáo hội phải là niềm hy vọng cho thế giới; nhưng thực tế cho thấy là nhiều người trong thế giới không còn tín nhiệm Giáo hội; chính vì thế, dân kitô càng cần phải cải thiện không ngừng.

Dân thiên sai lữ hành sẽ về tới vương quốc cánh chung, lúc Thiên Chúa hoàn tất việc đổi mới mọi sự. Tuy nhiên, công đồng dạy rằng cuộc canh tân vũ trụ không chỉ là một việc của tương lai, mà còn là của hiện tại nữa, vì đã được khởi đầu ở trong Giáo hội (LG 48c). Nghĩa là Giáo hội cấu thành với những yếu tố nhất nhất dứt khoát xác định, sẽ tồn tại mãi cho đến thời đại cuối cùng ấy; thế, sẽ không có một Giáo hội nào khác kế tiếp thay thế Giáo hội này cả.

Nhưng mọi sự Giáo hội có ở nơi dương thế này “đều phải hướng về thành đô tương lai chúng ta đang tìm kiếm” (SC 2), thế cần phải ý thức rằng giá trị của những thực tại trần thế ấy chỉ là tương đối (x. GS 39). Hiện trạng lữ hành làm cho Giáo hội nhìn lại Ítraen trong thời ở giữa hoang mạc để rút tỉa kinh nghiệm: một đàng, tránh đừng hối tiếc về quá khứ, một hãy hướng về tương lai; đàng khác, tiên liệu hầu ứng phó với những khó khăn, vì biết là sẽ bị cám dỗ bách hại từ phía các thế lực trần gian, như sách Khải huyền đã miêu tả (x. Kh 13: 1-7). Giáo hội đang chiến đấu chống lại “mầu nhiệm tội ác” (2Tx 2: 7) hằng cố kết nạp mọi lực lượng của sự dữ (x. Kh 19: 9; 20: 7tt): Gaudium et Spes gọi đó là “cuộc chiến cánh chung (GS 37b). Nhưng Ðức Kitô, Ðầu của Giáo hội, khẳng định rất Ngài “đã thắng thế gian” (Ga 16: 33; x. 1Ga 5: 4).

Giáo hội không được “định cư” ở thế gian, phải không ngừng tiến bước (LG 14a; 48c; UR 6a; DV 7c; GS 39). Như người bộ hành đường xa, Giáo hội không mang được những thứ hành trang cồng kềnh cản bước đi...; như Ðavít vóc dạc nhỏ không mặc được binh giáp của Saul to lớn (x. 1Sm 17: 38-39), Giáo hội không ôm nổi những thứ trang bị nặng nề không cần thiết cho cuộc chiến giữa trần gian. Thế nhưng, ngày nay, Giáo hội đang sống với không biết bao nhiêu cơ chế, lề luật, truyền thống... : thật khó lòng nhúc nhích được. Không thể nào Giáo hội lại trói buộc thiên mệnh của mình vào một thời đại, một nền văn hóa , một nền triết hoặc thần học , v.v. được; nhưng ngược lại, phải ra sức giữ cho mình được hoàn toàn tự do đối với hết mọi thực tại của thế gian đang biến đổi này... (x. 1Cr 7: 31; 1Ga 2: 17).

 Dân Tư Tế

“Khi gia nhập Dân Thiên Chúa bằng đức tin và Phép Rửa, chúng ta dự phần vào ơn gọi vô song của Dân ấy: ơn gọi tư tế. Ðức Giêsu Kitô  được cất nhắc làm thượng tế giữa loài người, đã làm cho Dân mới ‘thành một vương quốc, thành những tư tế cho Thiên Chúa, Cha Ngài. Thực vậy, những người đã lãnh Phép Rửa, nhờ sự tái sinh và xức dầu của Thánh Thần, được thánh hiến để trở thành đền thờ thiêng liêng và nhận chức tư tế thánh’ (LG 10).”