Suốt
trong
thế
kỷ
trước
công
đồng
Vaticanô
II,
thần
học
đã
tận
lực
dồn
công
theo
đuổi
công
cuộc
khảo
cứu
về
Đức
Maria
và
về
vai
trò
ngài
đóng
giữ
ở
trong
mầu
nhiệm
cứu
độ;
và
cũng
thời
gian
đó,
trong
tầm
bao
phủ
lớn
rộng
của
nền
thần
học
nói
chung,
Thánh
Mẫu
học
là
một
môn
ngành
rất
được
coi
trọng.
Nhưng
rồi,
tiếp
ngay
sau
quyết
định
quan
trọng
của
Công
đồng
về
việc
đưa
vào
trong
Hiến
chế
Tín
lý
về
Giáo
hội
(Lumen
Gentium)
lược
đồ
giáo
lý
về
Đức
Maria,
Thánh
Mẫu
học
đã
phải
chịu
rơi
vào
cảnh
thất
sủng
trong
một
quãng
thời
gian
nhiều
năm.
Giữa
nhiều
nguyên
nhân
dẫn
đến
tình
trạng
này,
thì
cách
riêng
phải
kể
đến
sự
việc
này
là
các
điểm
giáo
huấn
của
Công
đồng
về
những
vấn
đề
chính
yếu
thuộc
các
lãnh
vực
Giáo
hội
học
và
Kitô
học
đã
gợi
mở
ra
nhiều
viễn
cảnh
mới
mẻ,
khiến
các
thần
học
gia
háo
hức
dồn
công
khám
phá
và
khai
triển,
đến
độ
đã
bỏ
mặc
các
lãnh
vực
còn
lại
của
thần
học.
Tuy
vậy,
vào
những
thời
gần
đây
hơn,
các
thần
học
gia
đã
bắt
đầu
hướng
lưu
tâm
về
lại
với
Đức
Maria
và
nền
Thánh
Mẫu
học,
và
đã
tiến
hành
rất
nhiều
công
trình
có
giá
trị
như
hiện
thấy.
Song,
dù
gì
đi
nữa,
mối
lưu
tâm
mới
phát
sinh
trở
lại
đối
với
Đức
Maria,
cũng
đã
thấy
chuyển
hướng
khác
xa
so
với
dạng
Thánh
Mẫu
học
ngày
trước.
Trên
thực
tế,
thuật
ngữ
“thánh
mẫu
học”
đã
trở
nên
lỗi
thời,
và
phải
miễn
cưỡng
lắm
thì
nhiều
thần
học
gia
chuyên
nghiên
cứu
về
Đức
Maria
mới
để
người
ta
gọi
mình
là
những
nhà
Thánh
Mẫu
học.
Tuy
nhiên,
không
chỉ
gói
gọn
trong
vấn
đề
thuật
ngữ,
thực
tế
kia
phản
ánh
cho
thấy
cách
hiểu
của
các
thần
học
gia
ở
thời
hậu
công
đồng
về
bản
chất
của
chính
nền
thần
học.
Mầu
nhiệm
về
Đức
Maria
là
một
phần
trong
toàn
bộ
mầu
nhiệm
về
Đức
Kitô
và
công
trình
cứu
độ
của
Người.
Thánh
Mẫu
học
đã
được
dìm
mình
trở
lại
vào
trong
Kitô
học;
và
do
đó,
khi
suy
tư
về
Đức
Maria,
thần
học
luôn
lấy
Đức
Kitô
làm
trung
tâm
điểm.
Tất
nhiên,
các
nhà
thánh
mẫu
học
thời
trước
đã
ý
thức
rất
rõ
rằng
vai
trò
quan
trọng
của
Đức
Maria
trong
kế
hoạch
cứu
độ
được
liên
kết
chặt
chẽ
với
mầu
nhiệm
Đức
Kitô,
và
họ
đã
phải
tốn
không
biết
bao
nhiêu
công
sức
để
rút
ra
cho
được
kết
luận
là
vai
trò
của
Đức
Mẹ
chỉ
mang
tính
cách
thứ
yếu
so
với
vai
trò
của
Con
Mẹ
là
Đấng
cứu
độ
duy
nhất
của
nhân
loại.
Dù
thế,
họ
đã
có
xu
hướng
cầm
Thánh
Mẫu
học
như
là
một
bộ
môn
“khoa
học”
riêng
biệt
nằm
dưới
chiếc
dù
của
nền
thần
học
nói
chung,
và
chắc
chắn
là
họ
đã
chọn
Đức
Maria
(chứ
không
phải
Đức
Kitô)
làm
tiêu
điểm
để
nhắm
đến
trong
công
cuộc
tầm
cứu
của
mình.
Tuy
nhiên,
còn
một
nguyên
nhân
sâu
xa
hơn
có
thể
giúp
cắt
nghĩa
được
lý
do
tại
sao
các
cuộc
khảo
cứu
ngày
nay
về
Đức
Maria
không
còn
được
tiến
hành
theo
phương
thức
và
đường
hướng
của
nền
Thánh
Mẫu
học
ngày
trước
nữa.
Nguyên
nhân
ấy
có
liên
quan
đến
chính
cách
hiểu
mà
các
nhà
thánh
mẫu
học
có
đối
với
bộ
môn
“khoa
học”
của
họ;
có
thể
từng
bước
làm
sáng
tỏ
nguyên
nhân
này
qua
việc
đặt
lại
một
vấn
đề
đã
từng
thu
hút
chú
ý
của
các
giới
học
giả
kia
trong
cả
trăm
năm
qua:
Đâu
là
nguyên
tắc
nền
tảng
của
Thánh
Mẫu
học?
Có
thể
lấy
phẩm
tính
chủ
đạo
nào
nơi
Đức
Maria
để
thiết
đặt
nền
móng
hầu
xây
nên
toàn
bộ
tòa
nhà
Thánh
Mẫu
học?
Hầu
hết
các
nhà
thánh
mẫu
học
đều
đã,
bằng
cách
này
hay
cách
khác,
đề
xuất
một
dạng
quan
niệm
lấy
địa
vị
mẫu
hệ
thần
linh
của
Đức
Maria
–
tức,
địa
vị
mẹ
Thiên
Chúa-làm-người
của
ngài
–
làm
trụ
cột
căn
bản
để
chống
đỡ
toàn
bộ
nền
thần
học
về
Đức
Maria.
Dù
thế,
dạng
quan
niệm
này
không
phải
là
không
gặp
thấy
những
khó
khăn.
Công
cuộc
khảo
cứu
về
Đức
Maria
tập
trung
và
xoáy
mạnh
vào
hai
mấu
điểm
– đã
được
truyền
thống
Giáo
hội
nhìn
nhận
xưa
nay
– đó
là:
Maria
là
mẹ
của
Chúa
Kitô,
Đấng
Thiên
Chúa-làm-người;
và
Maria
là
đấng
hợp
tác
với
Đức
Kitô
trong
công
trình
cứu
độ
của
Người.
Tuy
nhiên,
vấn
đề
lại
phát
sinh
từ
thực
tế
này
là:
địa
vị
mẫu
hệ
thần
linh
của
Maria
và
vai
trò
hợp
tác
của
ngài
với
Đấng
Cứu
chuộc
trong
công
trình
cứu
độ
là
hai
ý
niệm
hoàn
toàn
có
tính
cách
riêng
biệt
nhau.
Điều
này
có
nghĩa
là
địa
vị
mẫu
hệ
thần
linh
kia
không
mảy
may
ngụ
ý
việc
Đức
Maria
thông
phần
vào
công
cuộc
cứu
độ,
bởi
không
thể
nhận
thấy
bất
kỳ
một
mối
dây
liên
kết
nội
tại
nào
giữa
hai
ý
niệm
ấy.
Đã
hẳn,
ai
cũng
nhận
chân
vai
trò
hợp
công
cứu
chuộc
của
Đức
Maria,
nhưng
nếu
chỉ
đơn
thuần
dựa
vào
vai
trò
làm
mẹ
Đức
Kitô
của
ngài
mà
thôi,
thì
không
có
đủ
căn
cứ
để
giải
thích
lý
do
tại
sao
ngài
đã
cộng
tác
vào
công
trình
cứu
chuộc
của
Con
mình;
hơn
nữa,
vai
trò
ấy
cũng
chẳng
phải
là
một
thứ
“hạt
mầm”
từ
đó
làm
phát
sinh
ra
hết
thảy
mọi
đặc
ân
khác
của
Đức
Maria.
Để
đối
diện
và
giải
quyết
các
khó
khăn
vừa
nêu,
một
số
thần
học
gia
đã
đề
xuất
ý
kiến
cho
rằng
Thánh
Mẫu
học
phải
được
xây
dựng
dựa
trên
một
dạng
nguyên
tắc
phức
hợp
(chẳng
hạn,
Maria
là
mẹ
của
Đức
Kitô
toàn
thể),
hoặc
dựa
trên
một
dạng
nguyên
tắc
song
đôi
(chẳng
hạn,
Maria
là
Mẹ
Thiên
Chúa,
và
Maria
là
Đấng
hiệp
tác
với
Con
ngài,
Đấng
Cứu
độ).
Tuy
vậy,
không
chấp
nhận
các
dạng
giải
pháp
kia,
phần
đông
các
học
giả
chỉ
muốn
tìm
sao
cho
ra
một
dạng
nguyên
tắc
đơn
nhất
như
là
cách
thức
duy
nhất
có
thể
giúp
bảo
toàn
được
tính
cách
thống
nhất
của
môn
học
họ
đã
coi
như
một
khoa
học
đích
thực
và
riêng
biệt.
Và
như
thế,
nhiều
thần
học
gia
khác
đã
trình
xuất
các
giải
pháp
mới
mẻ
có
thể
đóng
giữ
vai
trò
như
làm
nguyên
tắc
cơ
bản,
làm
nền
tảng
chống
đỡ
cho
toàn
bộ
tòa
nhà
Thánh
Mẫu
học.
Chịu
ảnh
hưởng
các
Giáo
phụ
và
cách
kiểu
đối
chiếu
Evà-Maria,
một
số
thần
học
gia
đã
lấy
vai
trò
hợp
công
cứu
chuộc
của
Đức
Maria
làm
nguyên
tắc
chính
yếu.
Một
số
khác
thì
biện
luận
cho
rằng
giải
pháp
then
chốt
là
quan
niệm
coi
Đức
Maria
như
là
nguyên
mẫu
(prototype)
của
Giáo
hội,
hoặc
như
là
Đấng
tràn
đầy
ân
sủng;
và
gần
đây
hơn
cả,
Karl
Rahner
cũng
đã
quyết
liệt
bênh
vực
cho
chủ
trương
cầm
Đức
Maria
như
là
người
đã
được
cứu
chuộc
hoàn
hảo
nhất,
và
lấy
sự
kiện
đó
làm
nền
móng
căn
bản
cho
tòa
nhà
Thánh
Mẫu
học.
Song
dù
gì,
các
dạng
giải
pháp
nêu
trên
cũng
đã
không
được
chấp
nhận
hoàn
toàn;
bởi
vì,
như
đã
thấy,
hoặc
là
chúng
được
xây
dựng
dựa
trên
đường
hướng
giả
định
về –
thay
vì
tạo
lập
một
nền
móng
căn
bản
cho
–
địa
vị
mẫu
hệ
thần
linh
của
Đức
Maria,
hoặc
là
chúng
thiếu
mất
đi
độ
thoáng
rộng
và
phong
phú
cần
thiết
để
có
thể
làm
trụ
cột
chống
đỡ
cho
các
đặc
ân
khác
thích
đáng
với
Đức
Nữ
Trinh.
Tuy
vậy,
có
vẻ
như
toàn
bộ
cuộc
tranh
luận
xoay
quanh
chủ
đề
nêu
trên
kia,
được
tiến
hành
dựa
theo
một
lối
quan
niệm
sai
lạc
về
bản
chất
của
“khoa
học”
cũng
như
về
bản
chất
của
Thánh
Mẫu
học
trong
tư
thế
là
một
ngành
khoa
học,
dù
đây
là
một
ngành
khoa
học
đặc
biệt.
Và
đó
là
lý
do
tại
sao,
trong
thời
đại
ngày
nay,
nền
Thánh
Mẫu
học
theo
đường
hướng
cổ
thời
đã
không
– và
không
thể
–
còn
được
chấp
nhận
như
trước
nữa.
Bởi
vì,
cung
cách
quan
niệm
về
bản
chất
của
thần
học
xét
như
một
khoa
học
đã
và
đang
còn
gánh
chịu
một
sức
nặng
rất
lớn
từ
lối
suy
luận
thần
học
thời
trung
cổ
vốn
chủ
trương
cho
rằng
một
ngành
khoa
học
bao
giờ
cũng
được
xây
dựng
dựa
trên
nền
móng
các
nguyên
tắc
cơ
bản;
và
dựa
vào
các
nguyên
tắc
cơ
bản
kia,
người
ta
sẽ
tiến
hành
bổ
sung
thêm
các
tiền
đề
(các
dữ
liệu,
dữ
kiện
quan
sát
được),
rồi
theo
đó
mà
lập
luận
nhằm
rút
ra
các
kết
luận
mới
mẻ.
Bởi
đó,
một
ngành
khoa
học
– dù
là
được
tiến
hành
theo
lối
quy
nạp
hay
diễn
dịch,
thì
cũng
–
được
coi
như
là
một
khối
tri
thức
được
thiết
cấu
theo
lớp
lang,
trong
đó,
mỗi
phần
đều
được
gắn
kết
với
một
phần
khác,
và
toàn
bộ
các
phần
này
đều
được
thiết
cấu
thành
một
thực
thể
thống
nhất
nhờ
mối
liên
hệ
mà
từng
phần
có
đối
với
phần
nền
là
các
nguyên
tắc
cơ
bản
hay
các
tiền
đề.
Như
thế,
khoa
học
được
quan
niệm
hệt
như
“một
chòm
tổng
thể
(constellation)
bao
gồm
các
dữ
kiện,
lý
thuyết,
và
phương
pháp”
xoay
quanh
một
hạt
nhân
tâm
điểm
là
các
nguyên
tắc
đã
được
thiết
định.
Và
“công
cuộc
phát
triển
của
khoa
học
trở
thành
một
quá
trình
phát
triển
từng
phần,
qua
đó,
các
thành
tố
kia
không
ngừng
được
bổ
sung
–
theo
cách
thức
đơn
giản
và
bằng
phương
thức
nối
kết
–
vào
khối
tổng
thể
đang
không
ngừng
phát
triển
với
quy
mô
lớn
dần,
cấu
thành
các
kỹ
thuật
và
tri
thức
khoa
học.”
Công
cuộc
kiếm
tìm
một
dạng
nguyên
tắc
cơ
bản
cho
khoa
Thánh
Mẫu
học
đã
cho
thấy
rằng
lối
quan
niệm
về
Thánh
Mẫu
học
vẫn
còn
rập
theo
mô
dạng
của
một
ngành
khoa
học
đặc
thù.
Dù
tiến
hành
công
cuộc
nghiên
cứu
của
mình
căn
cứ
vào
những
gì
được
mạc
khải
–
chứ
không
dựa
vào
các
dữ
kiện
quan
sát
được
–
thì
các
thần
học
gia
cũng
vẫn
cố
sức
lập
nên
một
hệ
thống
tri
thức
dựa
trên
một
số
niềm
tin
cơ
bản
hoặc
các
nguyên
tắc
nền
tảng.
Đà
gia
tăng
về
khối
lượng
tri
thức
thần
học
được
xem
như
một
tiến
trình
tích
lũy
vô
tận
những
gì
kín
múc
được
nơi
kho
tàng
phong
phú
vô
ngần
của
trái
tim
Đức
Kitô,
nơi
nguồn
mạc
khải
của
Cha,
và
nơi
tài
khéo
léo
của
trí
tuệ
nhân
loại.
BẢN
CHẤT
CỦA
MỘT
MÔ
BIỂU
Những
cuộc
nghiên
cứu
gần
đây
của
các
triết
gia,
đặc
biệt
là
của
các
sử
gia
khoa
học,
đã
cho
thấy
rằng
lối
quan
niệm
coi
đà
phát
triển
của
khoa
học
như
là
một
“quá
trình
phát
triển
do
tích
lũy”
là
một
lối
quan
niệm
thiếu
căn
cứ
vào
các
dữ
kiện
lịch
sử.
Vì
thực
ra,
các
ngành
khoa
học
đặc
thù
đã
hình
thành
và
phát
triển
theo
một
dạng
thái
hoàn
toàn
khác
biệt
so
với
những
gì
mà
các
lý
thuyết
sơ
kỳ
về
bản
chất
của
khoa
học
đã
buộc
con
người
phải
chấp
nhận
bấy
lâu
nay.
Thay
vì
hướng
theo
lối
quan
niệm
cho
rằng
một
ngành
khoa
học
phát
triển
dựa
trên
một
quá
trình
tích
lũy
dần
các
dữ
kiện,
lý
thuyết
và
phương
pháp
mới
–
hệt
như
việc
ra
sức
dựng
nên
một
kho
chứa
tri
thức,
rồi
chuyển
giao
nó
cách
nguyên
vẹn
cho
các
lớp
khoa
học
gia
hậu
bối
–
thì
bức
tranh
tổng
thể
của
lịch
sử
đã
gợi
ý
cho
thấy
là
nên
quan
niệm
đà
phát
triển
ấy
của
khoa
học
theo
một
mô
hình
gấp
khúc
(zigzag);
theo
mô
hình
gấp
khúc
này,
một
ngành
khoa
học
sẽ
chuyển
di
từ
một
hệ
lý
thuyết
này
sang
một
hệ
lý
thuyết
khác,
sẵn
sàng
vứt
lại
sau
lưng
một
phần
lớn
những
gì
được
coi
là
“giáo
điều”
mà
các
thế
hệ
khoa
học
gia
tiền
bối
để
lại,
rồi
tự
nó
hình
thành
nên
một
dạng
cách
tổng
hợp
mới
mẻ
các
lý
thuyết
và
dữ
kiện.
Các
bước
thay
đổi
đột
phá
về
đường
hướng
quan
niệm
kia
quả
xứng
đáng
được
gọi
là
các
“cuộc
cách
mạng”
trong
khoa
học.
Những
“cuộc
cách
mạng”
khoa
học
ấy
bừng
phát
nhờ
vào
việc
chào
đời
của
khái
niệm
mô
biểu
(paradigm).
Mô
biểu
là
một
thuật
ngữ
do
Thomas
Kuhn
đề
xuất
trong
cuốn
sách
khá
nổi
tiếng
của
ông,
tựa
đề
The
Structure
of
Scientific
Revolutions.
Trong
ấn
bản
đầu
tiên
của
tác
phẩm
này,
khái
niệm
về
mô
biểu
còn
khá
mơ
hồ,
và
Kuhn
đã
không
nhất
quán
trong
cách
dùng
thuật
ngữ
này.
Trong
phần
bổ
túc
ở
cuối
ấn
bản
lần
thứ
hai
của
cuốn
sách,
và
trong
các
thiên
tiểu
luận
về
sau,
Kuhn
đã
xác
định
ra
được
hai
ý
nghĩa
đặc
biệt
của
thuật
ngữ
“mô
biểu.”
Một
mặt,
xét
theo
ý
nghĩa
xã
hội,
thuật
ngữ
này
chỉ
về
một
“tổng
thể
bao
gồm
các
niềm
tin,
giá
trị,
kỹ
thuật,
v.v...,
được
các
thành
viên
thuộc
một
cộng
đồng
(khoa
học)
nào
đó
cùng
nhau
chia
sẻ.”
Theo
ý
nghĩa
này,
ông
có
xu
hướng
coi
mô
biểu
như
là
một
thứ
“khuôn
thước
kỷ
luật”
(“disciplinary
matrix”),
nhưng
đây
không
phải
là
điều
bài
viết
muốn
quan
tâm
xem
xét.
Mặt
khác,
xét
theo
một
ý
nghĩa
thu
hẹp
hơn
nhiều,
thuật
ngữ
này
chỉ
về
“một
loại
thành
tố
nằm
trong
tổng
thể
kia
(tức
là
nằm
trong
mô
hình
xã
hội
hoặc
khuôn
thước
kỷ
luật),
một
dạng
giải
pháp
cụ
thể
được
dùng
làm
mô
hình
hoặc
khuôn
mẫu,
có
khả
năng
thay
thế
các
quy
tắc
tường
minh
để
đóng
lấy
vai
trò
làm
nền
tảng
cho
việc
đề
ra
giải
pháp
đối
với
các
vấn
nạn
còn
tồn
tại
trong
một
ngành
khoa
học
thông
thường.”
Như
thế,
xét
theo
ý
nghĩa
thứ
hai
này,
mô
biểu
chính
là
một
mô
hình
kiểu
mẫu
được
các
thành
viên
trong
cộng
đồng
khoa
học
cùng
nhau
chia
sẻ,
và
Kuhn
coi
đó
như
là
một
“mô
mẫu”
(exemplar).
Theo
tác
giả
bài
viết
này,
có
vẻ
như
cách
hiểu
về
mô
biểu
theo
ý
nghĩa
thứ
hai
này
–
tức
hiểu
như
là
một
mô
mẫu
– có
thể
được
áp
dụng
một
cách
có
hiệu
quả
vào
cuộc
suy
cứu
thần
học
về
Đức
Maria,
như
sẽ
thấy
tiến
hành
trong
các
phần
sau
đây
của
bài
viết.
Như
thế,
các
mô
biểu
chính
là
những
thành
tựu
khoa
học
“chưa
từng
thấy
xuất
hiện
trong
quá
khứ,
có
đủ
sức
kéo
bật
một
nhóm
thành
viên
trung
thành
trước
nay
ra
khỏi
những
đường
hướng
nghiên
cứu
có
tính
cách
xung
đột
nhau
trong
lãnh
vực
khoa
học,”
và
“có
đủ
độ
thoáng
rộng
để
nhóm
các
người
làm
khoa
học
theo
đường
hướng
mới
này
tùy
nghi
dùng
mà
giải
quyết
tất
cả
mọi
dạng
loại
vấn
đề.”
Chúng
là
những
mô
hình
tiêu
biểu
cho
công
tác
thực
hành
khoa
học
thực
tiễn,
có
chức
năng
nối
kết
các
định
luật,
lý
thuyết,
thí
nghiệm
và
ứng
dụng
lại
với
nhau,
và
giữ
vai
trò
như
những
mô
hình
có
thể
làm
phát
xuất
ra
một
truyền
thống
nghiên
cứu
và
thực
hành
khoa
học
mang
tính
cách
chặt
chẽ,
nhất
thống.
Nhìn
vào
lịch
sử
phát
triển
khoa
học,
có
thể
tìm
thấy
nhiều
thí
dụ
minh
họa
về
các
mô
biểu;
chẳng
hạn
như,
từ
các
cuộc
nghiên
cứu,
quan
sát,
và
lý
thuyết
của
mình,
Côpécníc
đã
cho
ra
đời
mô
hình
nhật
tâm
(heliocentric)
của
vũ
trụ;
hay
qua
công
trình
nghiên
cứu
của
mình,
Rutherford
và
Bohr
cũng
đã
trình
ra
được
một
mô
hình
về
nguyên
tử,
theo
đó,
nguyên
tử
được
phác
họa
như
một
tiểu
thái
dương
hệ
có
các
hạt
nhỏ
li
ti
chuyển
động
vòng
quanh
một
hạt
nhân;
chính
nhờ
mô
biểu
này,
mà
người
ta
hiểu
rằng
nguyên
tử
có
thể
được
phân
nhỏ
ra:
đây
là
điều
không
ai
có
thể
hình
dung
ra
nổi
nếu
dựa
vào
lối
quan
niệm
sơ
khai
cho
rằng
nguyên
tử
giống
hệt
như
một
khối
cầu
tròn,
thô
cứng
và
không
thể
phân
tách
ra
được.
Lịch
sử
của
ngành
quang
học
vật
lý
cũng
cho
thấy
những
bước
tiến
bộ
của
nó
qua
việc
chào
đời
liên
tục
của
các
mô
biểu;
thay
thế
các
mô
biểu
có
trước,
các
mô
biểu
xuất
hiện
về
sau
đã
đề
ra
được
một
tập
hợp
các
vấn
đề
mới
mẻ
có
sức
thu
hút
mối
quan
tâm
của
các
nhà
khoa
học:
vào
thế
kỷ
thứ
mười
tám,
trong
cuốn
sách
có
tựa
đề
Opticks
của
mình,
nhà
bác
học
Newton
đã
xuất
trình
một
mô
biểu
cho
thấy
rằng
ánh
sáng
được
cấu
tạo
từ
những
hạt
vật
chất;
đến
đầu
thế
kỷ
mười
chín,
trong
các
tác
phẩm
về
quang
học
của
mình,
thay
thế
cho
mô
biểu
của
Newton,
Young
và
Fresnel
đã
đề
ra
một
mô
biểu
mới,
cho
rằng
ánh
sáng
là
một
dạng
sóng
điện
từ
chuyển
động
theo
phương
nằm
ngang;
rồi
đến
thời
đại
ngày
nay,
các
công
trình
nghiên
cứu
của
Planck,
Einstein,
và
của
nhiều
khoa
học
gia
khác,
lại
cho
thấy
rằng
ánh
sáng
được
cấu
tạo
từ
các
phôton
(những
thực
thể
cơ
học
lượng
tử
mang
những
thuộc
tính
vừa
làm
cho
liên
tưởng
đến
sóng
điện
từ,
vừa
làm
cho
liên
tưởng
đến
các
hạt
phân
tử).
Như
Kuhn
đã
lưu
ý,
“Quá
trình
biến
đổi
như
thế
của
các
mô
biểu
trong
lãnh
vực
quang
học
vật
lý,
chính
là
các
cuộc
cách
mạng
khoa
học,
và
tình
trạng
chuyển
tiếp
liên
tục
từ
một
loại
mô
biểu
này
sang
một
dạng
mô
biểu
khác
qua
các
cuộc
cách
mạng
kia
chính
là
mô
hình
phát
triển
thông
thường
của
khoa
học
trưởng
thành.”
Là
một
dạng
thành
tựu
cụ
thể
trong
một
ngành
khoa
học,
mô
biểu
thường
được
đưa
vào
trong
các
sách
giáo
khoa
như
một
mô
hình
cung
cấp
giải
pháp
cho
một
vấn
đề
nào
đó,
giúp
các
sinh
viên
bước
đầu
làm
quen
với
các
phương
thức
nghiên
cứu
khoa
học,
và
tạo
điều
kiện
thích
hợp
để
họ
có
thể
trở
thành
các
thành
viên
của
cộng
đồng
khoa
học
ấy.
Giá
trị
lớn
lao
của
một
mô
biểu
cốt
ở
chỗ
nó
có
thể
giúp
những
người
thực
hành
một
ngành
khoa
học
nào
đó
biết
để
tâm
lưu
ý
đến
thành
phần
cốt
yếu
của
hệ
thống
niềm
tin
phổ
biến
[giữa
cộng
đồng
khoa
học
này],
mà
không
cần
phải
cất
công
thiết
đặt
lại
nền
móng
cho
ngành
khoa
học
ấy.
Nhờ
đó,
họ
có
thể
dồn
tâm
lực
vào
các
vấn
đề
hay
vấn
nạn
mà
mô
biểu
gợi
lên;
và
chính
qua
quá
trình
giải
quyết
những
vấn
đề
như
thế,
mà
khoa
học
tạo
được
những
bước
tiến
bộ
cho
mình.
Khi
xuất
hiện
lần
đầu
tiên
trong
một
ngành
khoa
học
nào
đó,
mô
biểu
hoàn
toàn
không
phải
là
một
lý
thuyết;
đúng
hơn,
xuất
hiện
như
là
giải
pháp
cho
một
vấn
đề
cụ
thể,
mô
biểu
có
thể
làm
phát
sinh
một
lý
thuyết
nhằm
đảm
bảo
cho
việc
nó
sẽ
được
ứng
dụng
rộng
rãi
hơn
vào
công
tác
giải
quyết
các
vấn
đề
khác
có
liên
hệ.
Như
thế,
một
mô
biểu
có
thể
xuất
hiện
trước
một
lý
thuyết,
xét
vì
nó
là
thứ
“công
cụ”
hay
“thiết
bị”
thường
được
dùng
để
tạo
hình
một
lý
thuyết.
Chẳng
hạn,
toàn
bộ
lý
thuyết
hiện
đại
về
nguyên
tử
được
xây
dựng
dựa
trên
nền
móng
của
mô
biểu
– mô
hình
về
một
nguyên
tử,
chứ
không
phải
ngược
lại
(như
người
ta
thường
nghĩ):
mô
hình
không
đơn
thuần
chỉ
là
một
thứ
hình
ảnh
minh
họa
cho
một
lý
thuyết
nào
đó
(dù
nó
cũng
có
thể
đóng
giữ
vai
trò
ấy).
Tuy
nhiên,
điều
này
không
muốn
nói
rằng
mô
biểu
đứng
trong
một
tư
thế
trung
lập
đối
với
lý
thuyết.
Hoàn
toàn
ngược
lại.
Với
vai
trò
báo
hiệu
một
cuộc
cách
mạng
trong
khoa
học,
mô
biểu
không
thể
nào
được
quan
niệm
như
một
thứ
gì
đó
đứng
tách
rời
khỏi
mọi
thứ
khác.
Mô
biểu
chào
đời
chỉ
vào
lúc
có
một
vấn
đề
nan
giải
nào
đó
trong
khoa
học
mà
thứ
lý
thuyết
hiện
hành
không
thể
nào
giúp
giải
quyết
được.
Các
mô
biểu
được
đề
xuất
do
chính
các
khoa
học
gia,
những
người
đã
thấm
nhuần
các
lý
thuyết
khoa
học
và
có
thể
nhìn
vấn
đề
chỉ
dưới
dạng
lý
thuyết
được
chấp
nhận
mà
thôi.
Cho
dù
một
mô
biểu
mới
xuất
hiện
có
báo
hiệu
một
cuộc
thay
thế
cuối
cùng
cho
thứ
lý
thuyết
đã
được
chấp
nhận
xưa
nay
đi
nữa,
thì
cũng
quả
là
ngây
ngô
khi
cứ
một
mực
quả
quyết
rằng
mô
biểu
mới
này
không
hề
có
dây
mơ
rễ
má
gì
với
thứ
lý
thuyết
đã
có
trước
đó.
Mặt
khác,
khi
được
đưa
vào
sử
dụng
trong
các
sách
giáo
khoa
như
là
những
mô
hình
minh
họa
nhằm
mục
đích
kết
nạp
các
thành
viên
mới
vào
cộng
đồng
khoa
học,
thì
các
mô
biểu
lại
mang
tính
cách
hoàn
toàn
“phụ
thuộc
vào
lý
thuyết.”
Một
mô
biểu
xét
theo
ý
nghĩa
này
không
thuần
túy
chỉ
là
một
thí
nghiệm
hoặc
một
mẫu
nghiên
cứu
thành
công
nào
đó;
và
như
thế,
nó
chỉ
có ý
nghĩa
khi
được
đặt
dưới
ánh
sáng
của
thứ
lý
thuyết
phát
biểu
về
nó
mà
thôi.
Trong
các
sách
giáo
khoa,
đóng
vai
trò
như
một
mô
hình
minh
họa
rõ
nét
về
các
định
luật,
lý
thuyết,
ứng
dụng,
mô
biểu
hứa
hẹn
sẽ
được
ứng
dụng
rộng
rãi
hơn
vào
hết
mọi
phạm
vi
của
–
hoặc
ít
nhất,
vào
một
thành
phần
quan
trọng
nào
đó
trong
–
một
ngành
khoa
học.
Mô
biểu
có
chức
năng
đề
ra
một
quan
điểm,
một
“cách
nhìn.”
Chứng
kiến
cùng
một
cảnh
mặt
trời
mọc,
nhưng
Ptôlêmê
–
với
mô
biểu
địa
tâm
(geocentric)
–
thì
cho
rằng
mặt
trời
di
chuyển
lên
từ
phía
chân
trời,
trong
khi
Côpécníc
–
với
mô
biểu
nhật
tâm
(heliocentric)
–
lại
cho
rằng
trái
đất
di
chuyển
vòng
quanh
mặt
trời.
Mô
biểu
là
yếu
tố
cốt
lõi
giúp
mang
lại
ý
nghĩa
cho
các
dạng
vấn
đề
và
lý
thuyết
trong
một
ngành
khoa
học.
Chỉ
khi
nào
được
đặt
dưới
ánh
sáng
của
mô
hình
nguyên
tử,
thì
lý
thuyết
nguyên
tử
mới
trở
nên
có ý
nghĩa.
Trong
ngành
di
truyền
học,
mã
di
truyền
được
giải
thích
dựa
theo
khái
niệm
“hình
ảnh”
ngôn
ngữ;
và
ngày
nay,
khái
niệm
“hình
ảnh”
ngôn
ngữ
đã
được
nới
rộng
ra
để
bao
hàm
không
chỉ
“các
ký
tự”
và
“các
cụm
từ”
không
thôi,
nhưng
còn
cả
“các
câu”
và
“hệ
thống
chấm
câu”
nữa.
Chức
năng
của
mật
mã
(tức
là
việc
truyền
đi
các
“thông
điệp”)
trở
nên
có ý
nghĩa
nhờ
vào
mô
biểu
thông
tin-ngôn
ngữ
này.
Vả
lại,
mô
biểu
cũng
đóng
vai
trò
chỉnh
hóa
ý
nghĩa
của
những
từ
ngữ
được
dùng
để
mô
tả
lý
thuyết
nữa.
Có
thể
rõ
ràng
nhận
thấy
điều
này
khi
có
một
cuộc
cách
mạng
nào
đó
diễn
ra
trong
lãnh
vực
khoa
học.
Tuy
cũng
dùng
cùng
những
từ
ngữ
tương
tự
như
nhau,
nhưng
những
người
làm
khoa
học
thuộc
trường
phái
cũ
và
mới
lại
có
thể
hiểu
chúng
theo
những
ý
nghĩa
khác
nhau;
và
có
lẽ
vì
không
được
lưu
ý
cho
đủ,
nên
điều
này
đã
tiếp
tay
làm
gia
tăng
thêm
tình
trạng
nhầm
lẫn
và
bế
tắc
trong
quá
trình
truyền
thông
giao
tiếp.
Chẳng
hạn,
hãy
thử
coi
trường
hợp
của
“những
người
từng
cho
Côpécníc
là
kẻ
điên
trí
xét
vì
ông
đã
lên
tiếng
tuyên
bố
rằng
trái
đất
chuyển
động.
Không
thể
nói
rằng
những
người
này
sai
hoặc
hoàn
toàn
sai.
Trong
cách
hiểu
của
họ,
‘trái
đất’
đứng
ở tư
thế
bất
động.
Ít
nhất
thì
không
ai
có
thể
làm
chuyển
động
trái
đất
của
họ
được.
Bởi
đó,
ý
niệm
mới
mẻ
mà
Côpécníc
đề
ra
không
đơn
thuần
xoay
quanh
việc
làm
chuyển
động
trái
đất.
Đúng
hơn,
đó
là
một
cách
hiểu
hoàn
toàn
mới
mẻ
về
các
vấn
đề
của
ngành
vật
lý
và
thiên
văn,
một
cách
hiểu
thực
sự
đã
làm
thay
đổi
ý
nghĩa
của
cả
khái
niệm
‘trái
đất’
lẫn
khái
niệm
‘chuyển
động.’
Nếu
không
có
những
thay
đổi
như
thế,
thì
đúng
là
điên
khùng
ý
niệm
về
một
trái
đất
chuyển
động.”
Như
thế,
mô
biểu
đề
ra
một
quan
điểm,
một
cách
nhìn,
để
người
ta
dựa
vào
đó
mà
giải
thích
các
hiện
tượng.
Tuy
nhiên,
không
nên
quan
niệm
mô
biểu
như
là
một
hình
thức
giản
lược
hóa
các
vấn
đề
phức
tạp,
như
thể
là
mọi
thứ
nhất
thiết
phải
được
thu
gọn
vào
trong
một
mô
biểu
đơn
giản,
và
phải
được
giải
thích
đơn
thuần
chỉ
như
một
khía
cạnh
nằm
trong
những
hình
thức
phức
tạp
nó
thâu
tóm.
Cũng
không
nên
cho
rằng
mọi
thứ
phải
được
diễn
dịch
dựa
theo
một
tiến
trình
suy
luận
hợp
lý
lấy
mô
biểu
làm
điểm
xuất
phát.
(Đôi
khi,
người
ta
quan
niệm
rằng
“nguyên
tắc
nền
tảng”
trong
Thánh
Mẫu
học
hoạt
động
theo
một
hoặc
cả
hai
cách
thức
này).
Đúng
hơn,
hiện
tượng
hay
bất
kỳ
điều
gì
cần
được
giải
thích,
phải
được
nhìn
nhận
trong
thế
đứng
riêng
biệt
của
nó:
nó
chính
là
đối
tượng
khảo
cứu;
tuy
nhiên,
cuộc
khảo
cứu
ấy
được
tiến
hành
dưới
ánh
sáng
của
mô
biểu.
Mô
hình
về
nguyên
tử
hiđrô
đã
giúp
làm
sáng
tỏ
về
bản
chất
của
các
nguyên
tử
khác.
Nhưng
điều
này
không
cho
phép
nghĩ
rằng
các
nguyên
tử
khác
chính
là
những
hình
thức
phức
tạp
của
nguyên
tử
hiđrô;
ngược
lại,
cấu
trúc
của
nguyên
tử
hiđrô
(một
hạt
mang
điện
tích
xoay
quanh
một
hạt
nhân)
gợi
ý
cho
thấy
là
các
nguyên
tử
khác
cũng
có
thể
mang
một
dạng
cấu
trúc
tương
tự
như
thế
–
tức
là
cũng
có
thể
nhìn
chúng
dưới
dạng
các
hạt
mang
điện
tích,
hạt
nhân,
v.v.
Một
định
luật
chẳng
hạn
như
Định
luật
thứ
hai
về
chuyển
động
của
Newton,
f=ma,
không
thể
nào
được
lấy
lại
cách
nguyên
xi
để
giải
quyết
các
vấn
đề
về
chuyển
động
rơi
tự
do
hoặc
chuyển
động
đều.
Đúng
hơn,
công
thức
này
đơn
thuần
chỉ
là
một
khung
định
luật
hay
giản
đồ
mà
người
ta
dựa
vào
để
thiết
lập
nên
các
công
thức
khác
tương
tự
theo
đó,
nhằm
giải
quyết
các
vấn
đề
liên
quan
đến
những
hình
thức
chuyển
động
kia.
Tuy
nhiên,
giải
quyết
các
vấn
đề
như
thế,
tức
là
nhà
khoa
học
đang
nghiên
cứu
về
chuyển
động
rơi
tự
do
hoặc
chuyển
động
đều,
chứ
không
phải
đang
khảo
sát
về
các
hình
thức
biến
hóa
khác
nhau
có
thể
có
của
công
thức
cơ
bản
kia.
Đây
là
một
nhận
định
quan
trọng
được
áp
dụng
trong
bài
viết
này.
Bài
viết
sẽ
tiến
hành
cuộc
bàn
luận
về
mẫu
tính
và
đồng
trinh
tính
của
Đức
Maria
dưới
ánh
sáng
của
mô
biểu
về
môn
đồ
tính.
Tuy
vậy,
điều
này
không
có
nghĩa
rằng
những
đặc
ân
ấy
của
Đức
Maria
sẽ
bị
giới
hạn
thu
gọn
vào
trong
những
hình
thức
khác
nhau
của
môn
đồ
tính,
hoặc
sẽ
được
suy
diễn
rút
ra
từ
cương
vị
môn
đồ
của
ngài.
Tuy
nhiên,
dù
có
nói
thế
nào
đi
nữa,
thì
cũng
phải
thừa
nhận
là
có
một
mối
liên
hệ
hỗ
tương
giữa
mô
biểu
với
việc
ứng
dụng
nó
vào
công
tác
giải
quyết
các
vấn
nạn
khoa
học.
Mô
biểu
đóng
vai
trò
như
là
chiếc
chìa
khóa
mở
ra
các
giải
pháp
hợp
lý;
nhưng
mặt
khác,
việc
ứng
dụng
thành
công
một
mô
hình
giải
pháp
nào
đó
lại
có
thể
giúp
làm
sáng
tỏ ý
nghĩa
của
chính
mô
biểu.
Thử
lấy
lại
thí
dụ
về
Định
luật
Chuyển
động
thứ
hai
của
Newton
để
xem
xét:
có
thể
áp
dụng
công
thức
f=ma
để
nghiên
cứu
và
giải
quyết
các
hình
thức
chuyển
động
khác
nhau
của
vật
chất.
Và
trong
khi
tiến
hành
giải
quyết
các
vấn
đề
liên
quan
đến
các
loại
hình
chuyển
động
như
thế,
thì
sinh
viên
không
chỉ
nghiên
cứu
về
cách
thức
vận
động
của
sự
vật
mà
thôi,
nhưng
còn
đào
sâu
về ý
nghĩa
của
các
ký
hiệu
tồn
tại
trong
công
thức
đó
nữa.
“Không
thể
nào
tách
riêng
hai
điều
này
ra
khỏi
nhau
được.”
Thường
khi,
một
mô
biểu
sẽ
được
thay
thế
vào
lúc
nó
gặp
phải
một
số
hiện
tượng
nào
đó
nó
không
thể
nào
giúp
giải
thích
được.
Nếu
sau
một
quá
trình
liên
tục
nỗ
lực
tìm
cách
giải
quyết
vấn
đề,
kể
cả
việc
bổ
sung
các
yếu
tố
cần
thiết
vào
mô
biểu
hiện
hành,
mà
người
ta
vẫn
không
đề
ra
được
một
cách
giải
thích
thỏa
đáng
nào
cho
các
vấn
nạn,
thì
khoa
học
có
thể
đang
đi
vào
một
thời
kỳ
khủng
hoảng;
và
chỉ
đến
khi
nào
một
mô
biểu
mới
chào
đời,
thì
tình
trạng
khủng
hoảng
ấy
mới
được
giải
quyết.
Vào
lúc
ban
đầu,
khi
mới
chào
đời,
mô
biểu
mới
này
chẳng
làm
gì
khác
hơn
ngoài
việc
đưa
ra
lời
giải
cho
các
vấn
nạn
đang
cần
được
làm
sáng
tỏ;
nhưng
nếu
có
triển
vọng
được
áp
dụng
rộng
rãi
hơn
vào
– và
có
thể
trở
thành
giải
pháp
cho
nhiều
vấn
đề
khác
trong
–
toàn
bộ
lãnh
vực
của
một
ngành
khoa
học
nào
đó,
thì
kết
quả
là
mô
biểu
ấy
sẽ
có
thể
thu
hút
được
về
phía
nó
những
thành
viên
của
cộng
đồng
khoa
học
và,
nhờ
đó,
trở
thành
mô
biểu
được
dùng
cho
các
cuộc
nghiên
cứu
sâu
rộng
hơn,
thay
thế
cho
mô
biểu
đã
tồn
tại
trước
đó.
Thế
là,
một
cuộc
cách
mạng
lại
xuất
hiện;
tuy
nhiên,
cũng
cần
phải
trải
qua
một
khoảng
thời
gian
đáng
kể,
thì
một
mô
biểu
mới
nào
đó
mới
có
thể
được
các
thành
viên
trong
một
cộng
đồng
khoa
học
yên
tâm
đón
nhận.
Các
nhà
khoa
học
thực
nghiệm
bao
giờ
cũng
có
xu
hướng
chống
lại
những
cuộc
cách
tân,
bởi
họ
không
dễ
dàng
gì
có
thể
loại
bỏ
một
mô
biểu
đã
từng
giúp
ích
cho
họ
trong
quá
khứ,
và
bởi
họ
cũng
không
hoàn
toàn
sẵn
sàng
thừa
nhận
rằng
thứ
mô
biểu
cũ
kia
đã
không
còn
đủ
sức
đề
ra
được
một
phương
cách
giải
thích
cho
hiện
tượng-vấn
đề
đang
tồn
tại.
Vả
lại,
việc
bằng
lòng
chấp
nhận
một
mô
biểu
mới,
cũng
đồng
nghĩa
với
việc
họ
phải
đặt
mình
vào
một
thế
đứng
hoàn
toàn
khác
biệt,
dưới
ánh
sáng
của
một
lý
thuyết
mới,
để
tiếp
cận
với
ngành
khoa
học
của
mình.
Bởi
đó,
họ
sẽ
phải
đặt
lại
vấn
đề
về
thành
phần
chính
yếu
của
hệ
thống
niềm
tin
phổ
biến
vốn
được
coi
trọng
từ
trước
đến
nay.
Giờ
đây,
những
gì
từng
được
coi
là
giáo
điều
lại
có
thể
chịu
chấp
nhận
một
cách
kiểu
giải
thích
khác
hẳn,
và
những
niềm
tin
được
ấp ủ
xưa
nay
phải
bị
loại
bỏ
đi.
Như
thế,
chẳng
có
gì
là
lạ,
việc
một
mô
biểu
mới
thường
vấp
phải
sức
kháng
cự
từ
cơ
cấu
khoa
học.
Hiếm
khi
nào
những
ý
niệm
mới
mẻ
lại
có
thể
thuyết
phục
được
những
người
chống
đối
chúng
phải
tin
theo;
tuy
nhiên,
những
ý
niệm
mới
này
lại
tồn
tại
lâu
hơn
những
người
chống
đối
chúng.
Một
thế
hệ
mới
không
bị
ràng
buộc
vào
những
ý
niệm
cũ
kỹ
sẽ
dễ
dàng
chấp
nhận
và
coi
những
ý
niệm
mới
là
hiển
nhiên;
và
như
thế,
rốt
cuộc,
mô
biểu
mới
cũng
sẽ
thắng
cuộc,
dù
cho
thế
đứng
của
nó
trong
khoa
học
vẫn
còn
bấp
bênh
cho
đến
khi
nào
những
người
làm
khoa
học
thuộc
thế
hệ
cũ
qua
đi.
Bởi
đó,
ngày
nay,
chẳng
còn
thấy
có
ai
tin
vào
chủ
thuyết
thiên
văn
của
Ptôlômy,
hoặc
quan
niệm
các
nguyên
tử
như
những
khối
cầu
thô
đặc
nữa.
Những
đường
nét
tổng
quan
về
vai
trò
của
các
mô
biểu
trong
khoa
học,
như
thấy
phác
họa
trên
đây,
dù
vẫn
chưa
phải
là
hoàn
chỉnh,
nhưng
cũng
đủ
để
cho
thấy
rằng
khái
niệm
về
mô
biểu
có
thể
áp
dụng
được
một
cách
có
hiệu
quả
vào
trong
công
trình
nghiên
cứu
thần
học.
VAI
TRÒ
CỦA
MỘT
MÔ
BIỂU
TRONG
THẦN
HỌC
Nhìn
vào
lịch
sử
Thánh
Mẫu
học,
thì
có
thể
nhận
ra
được
một
dạng
mô
hình
phát
triển
tương
tự
như
mô
hình
của
các
ngành
khoa
học
khác.
Qua
các
thời
đại
từ
trước
đến
nay,
vào
những
giai
đoạn
khác
nhau,
người
ta
thường
chú
tâm
nhấn
mạnh
đến
một
trong
các
nhân
đức
hay
vai
trò
nào
đó
của
Đức
Maria
nhằm
tuyên
tôn
ngài
như
là
mẫu
gương
điển
hình
cho
một
số
phương
diện
nhất
định
trong
đời
sống
kitô,
và
do
đó
mà
có
rất
nhiều
cách
kiểu
quan
niệm
khác
nhau
về
Đức
Maria.
Thời
sơ
khai
Giáo
hội,
ngài
được
gọi
là
“Evà
thứ
hai”;
đến
thời
đại
Côngxtăntinô,
ngài
được
đề
cao
như
là
mẫu
gương
của
những
kẻ
sống
đời
khổ
hạnh,
“vị
nữ
tu
Ai
cập
hoàn
hảo”;
đến
thời
kỳ
Trung
cổ,
dùng
lối
biểu
đạt
mang
đậm
chất
hiệp
sĩ,
người
ta
tuyên
tôn
ngài
là
“Đức
Bà
chúng
tôi,”
biểu
tượng
của
tình
yêu
vẹn
sạch;
rồi
bước
vào
thời
Phục
hưng,
người
ta
đề
cao
lòng
từ
ái
của
Đức
Maria,
coi
ngài
như
là
người
mẹ
thiêng
liêng
của
hết
thảy
mọi
người.
Và
trong
thời
đại
này,
với
đà
dồn
thúc
mạnh
mẽ
nhắm
vào
công
cuộc
khảo
cứu
nghiêm
cẩn
về
Thánh
Mẫu
học,
thì
việc
nỗ
lực
tìm
kiếm
cho
ra
một
“nguyên
tắc
nền
tảng”
đã
dẫn
đến
việc
Đức
Maria
được
tuyên
tôn
như
là
“Đức
Nữ
trung
gian
các
ơn,”
“Đấng
hợp
công
cứu
chuộc,”
“Mẹ
Giáo
hội,”
và
nhiều
tước
hiệu
tương
tự
như
thế.
Giữa
các
cách
quan
niệm
khác
nhau
về
Đức
Maria
như
thế,
có
nhiều
cách
quan
niệm
đã
đóng
giữ
vai
trò
tương
tự
như
vai
trò
của
một
mô
biểu
trong
khoa
học.
Các
cách
quan
niệm
ấy
có
chức
năng
quy
tụ
thành
một
khối
thống
nhất
toàn
bộ
công
cuộc
nghiên
cứu
về
Đức
Maria.
Chúng
đã
đề
ra
một
kiểu
mô
hình
để
việc
tìm
hiểu
về –
cũng
như
lòng
sùng
kính
dành
cho
–
Đức
Maria
có
thể
quy
chiếu
vào
mà
tìm
thấy
được
tiêu
điểm
của
nó.
Như
đã
nhắc
đến
trên
đây,
tác
giả
bài
viết
nhận
định
cho
là
sai
lầm
việc
gia
công
kiếm
tìm
một
nguyên
tắc
nền
tảng
khả
dĩ
giữ
vai
trò
hợp
nhất
khoa
Thánh
Mẫu
học
và
làm
mốc
giải
thích
để
từ
đó
rút
ra
hết
thảy
mọi
kết
luận
khác
có
liên
quan
đến
ngành
khoa
học
này.
Đúng
hơn,
yếu
tố
đóng
vai
trò
hợp
nhất
như
mong
muốn
ấy
có
thể
được
tìm
thấy
nơi
một
kiểu
mô
hình
chủ
đạo
–
tức,
mô
biểu
– có
đủ
độ
thoáng
rộng
và
sức
tác
động
mạnh
mẽ
để
tạo
ra
một
thế
đứng
thuận
lợi
giúp
quan
sát
được
hết
thảy
những
chân
lý
cao
cả
khác
về
Đức
Maria.
Mô
biểu
hay
mô
hình
ấy
sẽ
là
luồng
ánh
sáng
rọi
vào
– và
giúp
nhìn
rõ
ra
được
ý
nghĩa
của
–
hết
thảy
mọi
phẩm
tính
khác
nơi
Đức
Maria.
Giữ
vai
trò
định
hướng
cách
nhìn
về
Đức
Maria,
mô
biểu
ấy
đề
ra
một
thứ
tiêu
chuẩn
quy
chiếu
về ý
nghĩa
và
cách
giải
thích
vấn
đề.
Không
hề
có
một
thứ
mô
biểu
nào
đủ
sức
thâu
tóm
toàn
bộ
mầu
nhiệm
liên
quan
đến
vai
trò
của
Đức
Maria
trong
kế
hoạch
cứu
độ.
Đây
là
một
nguyên
do
nữa
giúp
giải
thích
vì
sao
là
luống
công,
việc
loay
hoay
tìm
kiếm
cho
ra
một
thứ
nguyên
tắc
nền
tảng,
buộc
nó
phải
đóng
vai
trò
“hạt
mầm”
(germ)
tiềm
chứa
toàn
bộ
mầu
nhiệm
về
Đức
Maria,
và
chỉ
cần
ngồi
đợi
nó
“nứt
ra,”
thì
mọi
sự
hiểu
biết
về
ngài
sẽ
lộ
hiện
rõ
ràng,
trở
nên
sáng
tỏ.
Tuy
nhiên,
vai
trò
của
một
mô
mẫu
trong
thần
học
và
vai
trò
của
một
mô
biểu
trong
khoa
học
không
hoàn
toàn
trùng
khớp
với
nhau.
Tình
trạng
tương
dị
ấy
phát
sinh
do
bởi
bản
chất
khác
nhau
–
cũng
như
do
bởi
các
bối
cảnh
hoạt
động
khác
nhau
của
những
mô
mẫu
hay
mô
biểu
–
thuộc
hai
lãnh
vực
riêng
biệt
này.
Ở
địa
hạt
thần
học,
mô
mẫu
hoạt
động
trong
bối
cảnh
của
một
cộng
đoàn
đức
tin
và
phụ
thuộc
vào
những
gì
đã
được
mạc
khải;
còn
ở
lãnh
vực
khoa
học,
mô
biểu
hoạt
động
trong
bối
cảnh
của
một
cộng
đồng
khoa
học
và
phụ
thuộc
vào
các
hiện
tượng
tự
nhiên.
Vả
lại,
trong
thần
học,
khi
một
mô
mẫu
mới
nào
đó
chào
đời
thì
không
nhất
thiết
đó
là
dấu
hiệu
tự
động
cảnh
báo
về
việc
toàn
bộ
hệ
thống
niềm
tin
đã
được
công
nhận
trước
đó
sẽ
bị
bỏ
rơi.
Tính
cách
liên
tục
của
niềm
tin
(truyền
thống)
là
một
đặc
nét
cốt
yếu
của
đức
tin
và
giáo
lý
kitô.
Những
giá
trị
hữu
ích
mà
thần
học
có
thể
rút
tỉa
ra
được
từ
công
cuộc
nghiên
cứu
về
các
Giáo
phụ
và
những
bậc
thầy
cố
cựu
trong
lãnh
vực
thần
học,
còn
phong
phú
và
dồi
dào
hơn
cả
những
gì
mà
một
nhà
khoa
học
thực
tiễn
(phân
biệt
với
một
sử
gia
khoa
học)
có
thể
rút
ra
được
từ
công
cuộc
nghiên
cứu
về
lịch
sử
sơ
khai
của
bộ
môn
mình
theo
đuổi.
Thần
học
gia
có
bổn
phận
phải
chú
tâm
đào
sâu
tất
cả
những
gì
mà
các
thế
hệ
tiền
bối
của
mình
đã
để
lại;
còn
khoa
học
gia
thì
không
buộc
phải
làm
như
thế.
Cả
mô
biểu
trong
khoa
học
lẫn
mô
biểu
trong
thần
học
đều
cùng
hướng
đến
một
điều
gì
đó
có
tính
cách
“cụ
thể.”
Một
mô
biểu
khoa
học
là
một
thành
tựu
cụ
thể
nào
đó
trong
khoa
học
–
tức,
một
cuộc
thí
nghiệm
hoặc
công
thức
của
một
định
luật
–
mang
một
tầm
ảnh
hưởng
sâu
rộng,
đủ
sức
đề
ra
một
hướng
đi
mới
mẻ
và
giúp
thiết
lập
lại
các
đường
biên
ranh
giới
của
khoa
học.
Một
mô
mẫu
thần
học
lại
không
hoàn
toàn
tương
tự
như
một
mô
biểu
khoa
học,
dù
nó
cũng
phải
đóng
giữ
vai
trò
định
hướng
cho
việc
nghiên
cứu
thần
học,
và
phải
giúp
thiết
lập
nên
được
một
thứ
nền
tảng
cho
cấu
trúc
thần
học.
Tuy
vậy,
tích
cách
“cụ
thể”
của
mô
biểu
thần
học
không
mang
ý
nghĩa
chỉ
về
một
thành
tựu
cụ
thể
nào
đó
(như
một
cuộc
thí
nghiệm
hay
một
công
thức).
Đúng
hơn,
tính
cách
“cụ
thể”
của
nó
muốn
nói
rằng
nó
là
một
dữ
kiện
mạc
khải.
Mô
biểu
thần
học
không
nhất
thiết
tự
nó
phải
là
kết
quả
của
quá
trình
suy
tư
triết
học
hoặc
thần
học;
thay
vào
đó,
nó
phải
là
một
điều
gì
đó
đã
được
Thiên
Chúa
mạc
khải
tỏ
tường,
tức
là
nó
phải
được
ghi
lại
rõ
ràng
trong
Kinh
Thánh.
Giá
trị
của
một
mô
mẫu
thần
học
phải
được
lượng
định
dựa
vào
khả
năng
nó
giúp
làm
sáng
tỏ
vấn
đề,
vào
thứ
ánh
sáng
nó
soi
rọi
trên
các
dữ
kiện
mạc
khải
như
đọc
thấy
trong
Kinh
Thánh
và
trong
truyền
thống
Giáo
hội.
Về
điều
này,
nó
còn
đóng
vai
trò
tương
tự
như
vai
trò
của
một
mô
biểu,
nghĩa
là
một
khi
đã
được
nhìn
nhận
như
là
thành
tựu
trong
một
ngành
khoa
học,
thì
nó
phải
có
khả
năng
chiếu
rọi
một
luồng
sáng
mới
mẻ
vào
toàn
bộ
phạm
vi
của
ngành
khoa
học
đó.
Nó
phải
có
khả
năng
giúp
giải
thích
các
vấn
đề,
đủ
sức
thâu
tập
–
thành
một
hệ
thống
gắn
kết
chặt
chẽ
với
nhau,
dưới
một
khung
lý
thuyết
duy
nhất
–
tất
cả
mọi
(hoặc
ít
ra
là
một
thành
phần
quan
trọng
nào
đó
thuộc)
dữ
kiện
và
hiện
tượng
có
liên
quan.
Một
mô
biểu
thần
học
thì
khác
với
khuôn
mẫu
như
thường
được
quan
niệm
trong
lãnh
vực
thần
học.
Chẳng
hạn,
Đức
Maria
thường
được
tuyên
tôn
như
là
một
gương
mẫu
của
Giáo
hội.
Dựa
theo
cách
giải
thích
như
đã
nêu
ra
trên
đây,
thì
rõ
ràng
là
một
mô
biểu
không
phải
là
một
khuôn
mẫu,
theo
ý
nghĩa
khuôn
mẫu
là
kết
quả
do
mô
biểu
phát
sinh,
trong
đó
khuôn
mẫu
được
hiểu
như
là
một
thứ
phiên
bản
mô
phỏng
(theo
tỷ
lệ)
một
nguyên
bản
nào
đó,
hệt
như
một
“khuôn
mẫu”
của
bức
tượng
Đức
Mẹ
sầu
bi
được
bày
bán
trong
các
cửa
hàng
lưu
niệm
ở
Rôma.
Hơn
nữa,
khuôn
mẫu
cũng
chẳng
phải
là
nguyên
nhân
làm
phát
sinh
ra
mô
biểu,
trong
đó
khuôn
mẫu
đóng
vai
trò
hướng
dẫn
cho
việc
tạo
hình
một
tác
phẩm
nghệ
thuật
nào
đó,
hệt
như
trường
hợp
một
họa
sĩ
dùng
một
hình
mẫu
để
cho
ra
đời
bức
vẽ
hay
bức
điêu
khắc
của
mình,
hoặc
như
trường
hợp
một
kiến
trúc
sư
dùng
một
bản
vẽ
mẫu
để
tiến
hành
thiết
kế
một
tòa
nhà.
Một
mô
biểu
cũng
không
phải
là
một
khuôn
mẫu
theo
ý
nghĩa
luân
lý,
trong
đó
khuôn
mẫu
được
hiểu
như
là
gương
mẫu
của
một
người
nào
đó
xứng
đáng
để
người
khác
noi
theo.
Đức
Maria
thường
được
coi
như
là
một
gương
mẫu
xét
trong
tất
cả
các
ý
nghĩa
nêu
trên:
ngài
được
tuyên
tôn
như
là
mẫu
gương
về
mọi
nhân
đức;
ngài
là
mẫu
gương
của
Giáo
hội
bởi
vì
ngài
mang
nơi
mình
hết
thảy
mọi
nét
tính
cách
đặc
trưng
có
thể
thấy
trong
Giáo
hội
(ý
nghĩa
kết
quả);
và
ngài
được
đề
cao
như
là
tấm
gương
điển
hình
về
hết
thảy
mọi
nhân
đức
mà
Giáo
hội
cần
phải
có
(ý
nghĩa
nguyên
nhân).
Cũng
cần
phải
phân
biệt
một
mô
biểu
với
một
mô
hình
khoa
học
thường
được
dùng
như
một
phép
loại
suy
để
giúp
hình
dung
được
một
cách
khái
quát
những
gì
không
thể
trực
tiếp
quan
sát
được.
chẳng
hạn,
mô
hình
về
một
nguyên
tử
được
thiết
kế
nên
từ
những
chiếc
dây
kim
loại
và
các
quả
cầu
bằng
nhựa.
Loại
mô
hình
như
thế
là
kết
quả
của
–
chứ
không
làm
phát
sinh
ra –
lý
thuyết
khoa
học.
Một
mô
biểu
trong
thần
học
cũng
không
giống
với
cái
mà
Avery
Dulles,
S.J.,
gọi
là
“mô
hình
giúp
giải
thích”
đóng
vai
trò
“tổng
hợp
lại
những
gì
đã
biết
hoặc
ít
nhất,
những
gì
phải
tin”
(chẳng
hạn,
các
dụ
ngôn
Tin
Mừng
về
lúa
mì
và
cỏ
lùng,
về
hạt
cải,
hay
về
nắm
men
trong
bột).
Tuy
vẫn
có
chức
năng
giúp
giải
thích
và
tổng
hợp,
nhưng
một
mô
biểu
không
bị
giới
hạn
vào
vai
trò
tổng
hợp
hóa
những
gì
đã
biết;
đúng
hơn,
nó
phải
đóng
cho
được
vai
trò
giúp
mang
lại
những
hiểu
biết
mới
mẻ,
ít
là
theo
ý
nghĩa
giúp
cho
có
được
những
cách
nhìn
mới
mẻ
về
mầu
nhiệm
đức
tin.
Hơn
nữa,
như
thấy
trong
các
thí
dụ
Dulles
xuất
trình,
một
mô
hình
giúp
giải
thích,
xét
theo
ý
nghĩa
này,
lại
bị
giới
hạn
về
phạm
vi;
nó
không
đủ
độ
thoáng
rộng
hoàn
toàn
để
có
thể
bao
trọn
toàn
bộ
lĩnh
vực
của
mình.
Một
dạng
mô
hình
khác
do
Dulles
xuất
trình,
có
mang
những
nét
khá
tương
tự
với
một
mô
biểu:
mô
hình
“khảo
sát
hay
tầm
cứu,”
là
mô
hình
có
khả
năng
giúp
đưa
đến
những
hiểu
biết
mới
trong
lãnh
vực
thần
học.
Tuy
nhiên,
vì
đặt
mô
hình
này
trong
tư
thế
đối
lập
với
mô
hình
giúp
giải
thích,
nên
có
vẻ
như
Dulles
muốn
cho
thấy
rằng
mô
hình
khảo
sát
hay
tầm
cứu
này
không
hề
giữ
chức
năng
hợp
nhất
hay
tổng
hợp,
là
chức
năng
mà
một
mô
biểu
tất
yếu
phải
có.
Thực
ra,
một
mô
biểu
mang
tính
cách
còn
triệt
để
hơn
cả
mô
hình
giúp
giải
thích
lẫn
mô
hình
tầm
cứu;
mô
biểu
hội
tụ
nơi
mình
các
nét
đặc
trưng
của
cả
hai
dạng
mô
hình
kia,
cho
phép
dùng
đến
cả
hai
dạng
mô
hình
ấy
ngay
trong
lãnh
vực
nghiên
cứu
thần
học;
và
hệt
như
vai
trò
của
một
mô
biểu
khoa
học,
nó
điều
khiển
các
hình
ảnh
loại
suy
và
các
mô
hình
có
tính
cách
minh
họa
về
một
lý
thuyết
nào
đó
mà
mô
biểu
chấp
nhận.
Một
mô
biểu
cũng
phải
được
phân
biệt
với
một
khái
niệm
có
liên
quan
khác
đang
được
rộng
rãi
sử
dụng
trong
nền
thần
học
hiện
đại:
một
nguyên
mẫu.
Đức
Maria
được
mô
tả
như
là
nguyên
mẫu
của
Giáo
hội,
hoặc
như
là
nguyên
mẫu
của
nữ
giới
và
phái
yếu.
Hiểu
theo
ý
nghĩa
triết
học
của
trường
phái
Platô,
thì
nguyên
mẫu
có
nghĩa
là
Lý
tưởng,
là
mẫu
mực
hoàn
hảo;
và
mọi
sự
đang
tồn
tại
trong
thế
giới
này
chỉ
là
những
hình
ảnh
mờ
nhạt
phản
chiếu
cái
Lý
tưởng
đó
mà
thôi.
Đó
không
phải
là ý
nghĩa
của
khái
niệm
mô
biểu
mà
bài
viết
đang
bàn
đến.
Cũng
có
thể
hiểu
nguyên
mẫu
theo
ý
nghĩa
phân
tâm
học
của
Jung.
Theo
Jung,
nguyên
mẫu
là
“hiện
thân
của
một
điều
gì
đó
không
thể
hoàn
toàn
lý
giải
được,
và
nó
chỉ
gián
tiếp
gợi
lên
ý
nghĩa
nó
có
thể
mang,
qua
con
đường
trực
giác
mà
thôi.”
Nguyên
mẫu
tồn
tại
ở
cấp
độ
“vô
thức
tập
thể,”
và
biểu
lộ
mình
ra ở
cấp
độ ý
thức
bằng
những
hình
ảnh
và
huyền
thoại
khác
nhau
đã
đi
vào
đời
sống
ý
thức
của
con
người.
Mặt
khác,
mô
biểu
không
hoạt
động
ở
cấp
độ
vô
thức;
và
dù
có
thể
nó
làm
mọc
lên
lý
thuyết
và
những
hình
ảnh
giải
thích,
nhưng
lý
thuyết
và
những
hình
ảnh
giải
thích
ấy
lại
không
phải
là
những
huyền
thoại.
MÔ
BIỂU
“ĐỨC
MARIA,
MÔN
ĐỒ
HOÀN
HẢO”
Dưới
sức
ảnh
hưởng
của
công
cuộc
tầm
cứu
sâu
rộng
về
Kinh
Thánh
trong
thời
hiện
đại,
ý
niệm
môn
đồ
tính
đã
giành
lại
được
chỗ
đứng
trung
tâm
trong
linh
đạo
và
thần
học
của
Giáo
hội
–
điều
này
không
hề
có
nghĩa
là ý
niệm
kia
đã
từng
có
thời
biến
mất
khỏi
tâm
thức
kitô.
Cách
riêng,
Đức
Maria
đang
được
đề
cao
như
một
gương
mẫu
về
môn
đồ
tính,
tức
như
là
người
“môn
đồ
hoàn
hảo.”
Cách
hiểu
như
thế
về
Đức
Maria
đang
ngày
càng
thu
hút
nhiều
hơn
chú
ý
của
các
thần
học
gia
và
các
học
giả
kinh
thánh
trong
các
thời
gần
đây;
và
ở
đây,
bài
viết
muốn
cho
thấy
rằng
có
một
dạng
mô
biểu
mới
mẻ
phản
ánh
một
cách
hiểu
về
Đức
Maria,
đang
chuyển
mình
ló
dạng
trong
thời
đại
này:
Đức
Maria,
môn
đồ
hoàn
hảo.
Trong
viễn
cảnh
khai
mở
và
khai
triển
mô
biểu
kia,
mẫu
tính
thần
linh
của
Đức
Maria,
vai
trò
của
ngài
trong
Giáo
hội,
và
ý
nghĩa
đích
thực
về
đồng
trinh
tính
của
ngài,
có
thể
được
hiểu
như
là
các
phương
diện
gắn
kết
chặt
chẽ
với
nhau,
bện
dệt
nên
toàn
bộ
mầu
nhiệm
về
Đức
Maria
trong
kế
hoạch
cứu
độ
nhân
loại.
Dù
thiết
nghĩ
là
có
thể
nhìn
những
đặc
ân
cao
cả
khác
của
Đức
Maria
dưới
ánh
sáng
môn
đồ
tính
ấy,
nhưng
bài
viết
chỉ
dồn
việc
khai
triển
ba
phẩm
tính
đặc
biệt
vừa
nêu
mà
thôi;
như
thế,
tưởng
cũng
đã
đủ
để
làm
sáng
tỏ
sức
mạnh
trong
nỗ
lực
giải
thích
vấn
đề
mô
biểu,
và
vai
trò
làm
lực
thống
nhất
đặc
tính
kia
có
thể
đóng
giữ
ở
trong
nền
thần
học
hiện
đại
về
Đức
Maria.
Cũng
cần
lưu
ý
thêm
cho
rõ:
nói
Đức
Maria
là
“môn
đồ
hoàn
hảo,”
thì
không
có ý
muốn
ám
chỉ
rằng
ngài
là
một
thành
viên
thuộc
nhóm
các
môn
đồ
đã
được
tuyển
chọn
để
đồng
hành
với
Đức
Giêsu
trong
sứ
vụ
rao
giảng
công
khai
của
Người
khắp
các
miền
xứ
Ítraen
vào
thời
bấy
giờ.
Không
có
bằng
chứng
nào
cho
thấy
Đức
Kitô
đã
đặc
biệt
tuyển
chọn
Đức
Maria
làm
môn
đồ
theo
ý
nghĩa
ấy
cả.
Thực
ra,
một
nét
chứng
cứ
có
được
lại
có
vẻ
như
thiên
về
việc
phủ
nhận
điều
đó.
Tuy
nhiên,
mặt
khác,
cũng
không
thấy
có
cuốn
nào
trong
bốn
cuốn
Tin
Mừng
lại
khắc
họa
chân
dung
Đức
Maria
như
là
người
không
có
lòng
tin.
Thực
ra,
thánh
Luca
đã
đặc
biệt
chú
tâm
nêu
bật
sự
việc
Đức
Maria
là
một
thành
viên
thuộc
cộng
đoàn
các
tín
hữu
hậu
biến
cố
phục
sinh
(x.
Cv
1:14).
Như
thế,
cần
có
một
ý
niệm
bao
quát
hơn
về
môn
đồ
tính,
và
nhất
thiết
phải
hiểu
nó
theo
ý
nghĩa
như
một
thái
độ
của
lòng
trí
và
tâm
hồn
hướng
vào
mối
tương
quan
thiết
cốt
với
Đức
Giêsu.
Trước
tiên,
cần
xác
định
rõ
nền
tảng
kinh
thánh
mà
mô
biểu
kia
dựa
vào
để
hình
thành.
Nếu
một
mô
biểu
khoa
học
được
coi
như
là
một
“thành
tựu
cụ
thể,”
thì
cũng
thế,
để
có
được
tính
cách
“cụ
thể,”
tất
một
mô
biểu
thần
học
phải
là
một
dữ
kiện
rõ
ràng
có
mặt
trong
Kinh
Thánh
–
tức
phải
là
một
“dữ
kiện
cụ
thể,”
dù
đây
là
dữ
kiện
mạc
khải
–
chứ
không
phải
là
kết
quả
tiếp
hậu
của
quá
trình
suy
tư
thần
học.
Tính
cách
lịch
sử
của
các
chi
tiết
trình
tả
về
Đức
Maria
trong
Kinh
Thánh
là
điều
còn
phải
được
bàn
thêm.
Bức
chân
dung
Đức
Maria
hiện
lên
rõ
ràng
nhất
nơi
các
phân
đoạn
Mátthêu
và
Luca
trình
thuật
về
thời
thơ
ấu
của
Đức
Giêsu;
tuy
nhiên,
bởi
còn
có
quá
nhiều
điểm
nghi
vấn
liên
quan
đến
sử
tính
của
các
đoạn
trình
thuật
kia,
nên
quả
là
khó
có
thể
cầm
chắc
một
chi
tiết
nào
đó
có
liên
hệ
đến
Đức
Maria
như
một
sử
kiện
bất
khả
phi
bác
(unquestionably
historical
fact).
Tin
Mừng
Gioan
cũng
vấp
phải
không
ít
vấn
đề
liên
quan
đến
nền
tảng
lịch
sử
của
những
gì
đã
được
viết
ra.
Đức
Maria
được
nhắc
đến
chỉ
vỏn
vẹn
hai
lần
– ở
Cana
và
Canvariô
– và
dù
cả
hai
biến
cố
này
mặc
lấy
một
ý
nghĩa
trọng
yếu
trong
cách
nhìn
của
Gioan,
thì
tính
cách
lịch
sử
của
chúng
cũng
không
thoát
được
khỏi
vòng
nghi
vấn.
Gioan
là
Phúc
âm
gia
duy
nhất
trình
thuật
về
biến
cố
Cana,
và
ngài
cũng
là
người
duy
nhất
đặt
Đức
Maria
trên
đồi
Canvariô.
Hơn
nữa,
Tin
Mừng
Gioan
là
một
dạng
chứng
luận
thần
học
phức
tạp
về
công
cuộc
cứu
độ
của
Thiên
Chúa
qua
Con
của
Người
là
Đức
Giêsu
Kitô;
trong
đó,
yếu
tố
lịch
sử
phụ
thuộc
vào
chủ
ý
thần
học.
Và
tuy
các
học
giả
ngày
nay
đang
càng
lúc
càng
có
xu
hướng
coi
Gioan
như
là
chứng
nhân
lịch
sử
về
cuộc
đời
Đức
Kitô,
nhưng
cũng
không
phải
là
không
còn
đó
vô
số
cuộc
tranh
luận
liên
quan
đến
việc
phân
định
cho
rạch
ròi
giữa
những
gì
thực
sự
có
nền
tảng
lịch
sử
với
những
gì
đơn
thuần
là
văn
cụ
(literary
device)
phục
vụ
cho
việc
chuyển
tải
tri
thức
thần
học.
May
thay,
có
một
biến
cố –
xuất
hiện
trong
cả
ba
Tin
Mừng
nhất
lãm
– có
thể
cầm
chắc
là
có
nền
tảng
lịch
sử
chính
xác,
bởi
vì
trong
khi
thuật
lại
biến
cố
ấy,
các
tác
giả
Tin
Mừng
đã
không
tô
vẽ
một
bức
chân
dung
“dễ
coi”
– ít
ra
là
như
thoạt
nhìn
– về
mẹ
Đức
Giêsu.
Sở
dĩ
quan
trọng
là
bởi
vì
biến
cố
ấy
có
thể
giúp
cho
hiểu
được
về ý
nghĩa
của
môn
đồ
tính,
và
còn
bởi
vì
chúng
có
liên
hệ
đến
Đức
Maria.
Như
thế,
nó
giúp
thiết
vạch
một
mốc
điểm
để
dựa
vào
mà
tiến
hành
cuộc
tìm
hiểu
nhằm
khám
phá
ra
được
một
giáo
huấn
minh
bạch
và
chắc
chắn
về
cương
vị
môn
đồ
của
Đức
Maria.
Biến
cố
ấy –
đọc
thấy
trong
Mt
12:46-50,
Mc
3:31-35,
và
Lc
8:19-21
–
thuật
lại
sự
việc
mẹ
và
anh
em
Đức
Giêsu
đến
tìm
Người
trong
lúc
Người
đang
giảng
dạy.
Và
Người
đã
nhân
đó
mà
nêu
bật
cho
thấy
rằng
đối
với
Người,
mối
liên
hệ
theo
tư
cách
môn
đồ
thì
có
thiết
cốt
hơn
là
mối
quan
hệ
huyết
thống
trong
gia
đình.
Về
cơ
bản,
cả
Mátthêu
lẫn
Máccô
đều
thuật
lại
sự
việc
này
với
cùng
một
chủ
ý
nhấn
mạnh
như
nhau.
Và
đây
là
những
gì
thánh
Máccô
ghi
lại:
“Mẹ
và
anh
em
Đức
Giêsu
đến,
đứng
ở
ngoài,
cho
gọi
Người
ra.
Lúc
ấy,
đám
đông
đang
ngồi
chung
quanh
Người.
Có
kẻ
nói
với
Người
rằng:
‘Thưa
Thầy,
có
mẹ
và
anh
em,
chị
em
Thầy
ở
ngoài
kia
đang
tìm
Thầy.’
Nhưng
Người
đáp
lại:
“Ai
là
mẹ
tôi?
Ai
là
anh
em
tôi?”
Rồi
Người
rảo
mắt
nhìn
những
kẻ
ngồi
chung
quanh
và
nói:
‘Đây
là
mẹ
tôi,
đây
là
anh
em
tôi.
Ai
thi
hành
ý
muốn
của
Thiên
Chúa,
người
ấy
là
anh
em
chị
em
tôi,
là
mẹ
tôi.’”
Thánh
Mátthêu
còn
nêu
rõ
là
khi
nói
lên
như
thế,
Đức
Giêsu
có ý
ám
chỉ
đến
các
môn
đệ
của
Người,
chứ
không
phải
đến
toàn
thể
đám
đông
đang
lắng
nghe
Người:
“Rồi
Đức
Giêsu
giơ
tay
chỉ
vào
các
môn
đệ
và
nói:
‘Đây
là
mẹ
tôi,
đây
là
anh
em
tôi!’”
(Mt
12:49).
Thuật
lại
sự
việc
này,
cả
Mátthêu
lẫn
Máccô
đều
nhắm
một
mục
đích
hết
sức
rõ
ràng
trong
hệ
thống
trật
bậc
giá
trị
của
Đức
Giêsu:
những
ai
liên
kết
với
Người
qua
thái
độ
sẵn
sàng
thi
hành
ý
muốn
của
Thiên
Chúa,
thì
được
xếp
vào
bậc
giá
trị
cao
hơn
so
với
những
ai
chỉ
đơn
thuần
có
liên
hệ
với
Ngài
qua
mối
dây
huyết
hệ.
Ý
nghĩa
quan
trọng
ấy
còn
được
Mátthêu
và
Máccô
gói
ghém
vào
trong
một
số
câu
nói
của
Đức
Giêsu:
chẳng
hạn,
trong
lời
Đức
Giêsu
quả
quyết,
“Ai
yêu
cha
hay
yêu
mẹ
hơn
Thầy,
thì
không
xứng
với
Thầy”
(Mt
10:37),
hoặc
trong
mệnh
lệnh
“hãy
đi
theo
tôi,
cứ
để
kẻ
chết
chôn
kẻ
chết
của
họ”
(Mt
8:22)
mà
Đức
Giêsu
đưa
ra
cho
người
thanh
niên
đang
có ý
định
về
nhà
để
chu
toàn
một
bổn
phận
cấp
bách
trước
khi
có
thể
toàn
tâm
toàn
ý mà
nối
gót
theo
Người.
Quả
vậy,
không
thể
nào
hiểu
khác
đi
được
ý
nghĩa
mà
các
đoạn
trình
thuật
kia
hàm
chỉ.
Trong
tiêu
chuẩn
đánh
giá
của
Đức
Giêsu,
mối
liên
hệ
theo
tư
cách
môn
đồ
thì
quan
trọng
hơn
là
các
quan
hệ
theo
huyết
thống.
Tuy
nhiên,
câu
chuyện
Máccô
và
Mátthêu
thuật
lại,
có
vẻ
như
cũng
ám
chỉ
đến
điều
này
là:
để
đề
cao
“gia
đình”
môn
đồ
của
mình,
dường
như
Đức
Giêsu
có
ý
khước
từ
mẹ
Người
và
các
người
bà
con.
Theo
nhận
định
của
Brown,
thì
“rõ
ràng
là
Người
đang
thay
thế
gia
đình
ruột
thịt
của
mình
bằng
một
gia
đình
khác
gồm
các
kẻ
tin,
tức
những
người
thi
hành
ý
muốn
Thiên
Chúa.”
Tuy
nhiên,
thái
độ
mặc
nhiên
khước
từ
ấy
(nếu
có)
cũng
chỉ
mang
một
ý
nghĩa
thứ
yếu
so
với
mục
đích
chính
yếu
mà
các
đoạn
trình
thuật
kia
muốn
nhắm
đến:
việc
thi
hành
ý
muốn
của
Thiên
Chúa
thì
có
giá
trị
còn
lớn
lao
hơn
cả
việc
được
làm
mẹ
Đức
Giêsu.
Phải
thừa
nhận
là
cách
kiểu
trình
bày
nội
dung
sứ
điệp
như
thế
kia
quả
đã
làm
cho
độc
giả
có
cảm
tưởng
rằng
Đức
Giêsu
đang
chối
bỏ
gia
đình
Người;
tuy
nhiên,
khó
mà
biết
chắc
là
các
tác
giả
Tin
Mừng
có
chủ
tâm
gây
ra
cảm
tưởng
như
thế
hay
không.
Thánh
Máccô
không
hề
nêu
lên
một
chi
tiết
đáng
lưu
ý
nào
khác
về
Đức
Maria
ở
những
chỗ
khác
trong
cả
cuốn
Tin
Mừng
của
ngài;
cả
thánh
Mátthêu
cũng
không,
ngoại
trừ
đoạn
trình
thuật
về
thời
thơ
ấu
của
Đức
Giêsu.
Bởi
đó,
không
thể
biết
được
việc
hai
tác
giả
Tin
Mừng
này
hiểu
như
thế
nào
về
mối
quan
hệ
giữa
Đức
Giêsu
với
mẹ
của
Người
(ngoài
việc
Đức
Maria
là
mẹ
Đức
Giêsu).
Thái
độ
giữ
im
lặng
về
Đức
Maria
của
Máccô
và
Mátthêu,
cho
thấy
một
thực
tế
là
có
lẽ
Đức
Maria
đã
không
được
đặc
biệt
đề
cao
trong
các
cộng
đoàn
giáo
hội
thời
ấy
và
truyền
thống
từ
đó
hai
cuốn
Tin
Mừng
này
chào
đời.
Nếu
quả
như
thế,
thì
có
thể
hiểu
được
là
vì
sao
hai
tác
giả
Tin
Mừng
này
thuật
lại
câu
chuyện
kia
với
một
giọng
điệu
không
biểu
hiện
rõ
việc
trọng
Đức
Maria
cho
đủ.
Các
vị
đã
không
biết
Đức
Maria,
đã
không
biết
chi
nhiều
về
ngài.
Và
điều
này
cũng
cho
thấy
tại
sao
Máccô
lại
dễ
dàng
kết
nhập
thành
một,
hai
truyền
thống
riêng
biệt
nhau
–
với
một
bên,
đề
cập
đến
“các
anh
em
của
Đức
Giêsu”
là
những
người
có
thái
độ
đối
nghịch
với
Người,
và
bên
kia,
nói
về
“mẹ
và
các
anh
em
của
Đức
Giêsu”
mà
không
thấy
nói
là
những
người
này
có
thái
độ
đối
nghịch
như
thế
hay
không
–
vào
ngay
trong
cùng
một
phân
đoạn
trình
thuật
(Mc
3:20-21,
31-35).
Tuy
nhiên,
như
những
gì
có
thể
suy
thấy,
rõ
ràng
là
khi
thuật
lại
sự
việc
ấy,
hai
tác
giả
Tin
Mừng
đã
không
có
chủ
ý
mặc
cho
nó
một
ý
nghĩa
chủ
yếu
chỉ
về
thái
độ
khước
từ
của
Đức
Giêsu
đối
với
mẹ
và
gia
đình
Người.
Thậm
chí,
cũng
có
thể
nói
được
rằng
hai
ngài
đã
chẳng
mảy
may
có ý
định
– dù
là ý
định
thứ
yếu
–
gây
ra
một
thứ
cảm
tưởng
như
thế
nơi
độc
giả.
Đúng
hơn,
ý
định
ban
đầu
của
các
ngài
có
lẽ
chỉ
đơn
thuần
nhắm
đến
việc
nêu
bật
–
một
cách
sinh
động
bao
nhiêu
có
thể
–
đặc
tính
ưu
việt
của
cương
vị
môn
đồ;
nhưng
chẳng
may
là
cách
biểu
đạt
của
các
ngài
lại
kéo
theo
một
tác
động
phụ:
khiến
độc
giả
lầm
tưởng
rằng
Đức
Giêsu
đang
làm
“bẽ
mặt”
Đức
Mẹ.
Ở
đây,
tưởng
cũng
cần
nhớ
rằng
việc
Đức
Giêsu
dùng
kiểu
nói
ngoa
dụ (hyperbole)
nhằm
nhấn
mạnh
ý
nghĩa
của
một
vấn
đề
nào
đó,
là
chuyện
hết
sức
bình
thường
xét
trong
bối
cảnh
văn
hóa
và
thời
đại
của
Người,
dù
lối
nói
ấy
có
vẻ
như
làm
“chói
tai”
những
người
thời
nay,
chẳng
hạn
như:
“Ai
đến
với
tôi
mà
không
dứt
bỏ
cha
mẹ,
vợ
con,
anh
em,
chị
em,
và
cả
mạng
sống
mình
nữa,
thì
không
thể
làm
môn
đệ
tôi
được”
(Lc
14:26).
Thánh
Luca
hẳn
đã ý
thức
được
thứ
tác
động
kéo
theo
ấy
và
có
lẽ
ngài
coi
đó
là
chuyện
cần
tránh.
Chắc
chắn,
nó
không
phù
hợp
được
với
bức
chân
dung
Đức
Maria
mà
ngài
phác
họa
nên
ở
những
chỗ
khác
trong
cuốn
Tin
Mừng
của
mình.
Tuy
muốn
trình
bày
lại
biến
cố
kia
nhằm
nêu
bật
giáo
huấn
của
Đức
Giêsu
về
tầm
quan
trọng
của
môn
đồ
tính,
nhưng
ngài
cũng
muốn
làm
thế
nào
đó
để
tránh
gây
ra
cảm
tưởng
rằng
Đức
Maria
đang
bị
coi
nhẹ.
Ngài
tỏ
lập
trường
bảo
vệ
Đức
Maria.
Có
thể
ngài
đã
đích
thân
gặp
gỡ
Đức
Maria
trong
các
cộng
đoàn
Giáo
hội
hậu
phục
sinh
và,
với
kinh
nghiệm
cá
nhân
ấy,
được
biết
rằng
Đức
Maria
thực
hoàn
toàn
xứng
đáng
được
kể
vào
hàng
ngũ
các
môn
đồ.
Hoặc
cũng
có
thể
ngài
chỉ
đơn
thuần
dựa
vào
một
truyền
thống
nào
đó
để
khắc
họa
nên
bức
chân
dung
về
Đức
Maria.
Tuy
nhiên,
dù
biết
đến
Đức
Maria
cách
trực
tiếp
hay
gián
tiếp,
thì
thánh
Luca
cũng
vẫn
được
coi
là
người
miêu
họa
rõ
nét
nhất
dung
mạo
môn
đồ
của
Đức
Maria;
và
xuyên
suốt
cả
cuốn
Tin
Mừng
của
ngài,
bao
gồm
cả
đoạn
trình
thuật
về
thời
thơ
ấu
của
Đức
Giêsu,
bức
chân
dung
ấy
được
phác
họa
dựa
theo
một
sự
kiện
mầm
giống,
còn
trong
giai
đoạn
manh
nha,
nhưng
lại
có
tầm
hưởng
sâu
xa
sau
này,
đó
là:
Đức
Maria
là
một
tín
hữu
thuộc
cộng
đoàn
Giáo
hội
hậu
Phục
sinh.
Bởi
đó,
khi
thuật
lại
sự
việc
Đức
Maria
đến
gặp
Đức
Giêsu,
thánh
Luca
đã
đưa
vào
một
vài
thay
đổi
đáng
kể.
Ngài
đặt
biến
cố
này
vào
trong
bối
cảnh
Đức
Giêsu
đề
ra
những
giáo
huấn
liên
quan
đến
môn
đồ
tính,
bắt
đầu
với
dụ
ngôn
người
gieo
giống
với
việc
hạt
giống
được
gieo
xuống
trên
nhiều
loại
đất
khác
nhau
(x.
Lc
8:4-15).
Dụ
ngôn
này
kết
thúc
với
câu
kết
luận
mang
ý
nghĩa
hết
sức
quan
trọng:
“Hạt
giống
rơi
vào
đất
tốt:
đó
là
những
kẻ
nghe
Lời
với
tấm
lòng
cao
thượng
và
quảng
đại,
rồi
nắm
giữ
và
nhờ
kiên
trì
mà
sinh
hoa
kết
quả”
(câu
15).
Khác
với
Mátthêu
và
Máccô,
Luca
thuật
lại
dụ
ngôn
này
–
cùng
với
những
lời
cắt
nghĩa
của
Đức
Giêsu
–
trước
khi
kể
về
việc
Đức
Maria
đến
gặp
Đức
Giêsu,
và
ngài
đã
đặt
vào
trong
cùng
một
buổi
giảng
dạy
của
Đức
Giêsu
cả
sự
việc
Người
kể
dụ
ngôn
lẫn
sự
việc
Đức
Maria
xuất
hiện.
Rõ
ràng,
thánh
Luca
muốn
rằng
trước
khi
đọc
tiếp
câu
chuyện
về
mẹ
và
các
anh
em
của
Đức
Giêsu,
độc
giả
cần
phải
khắc
ghi
vào
lòng
trong
trí
mình
ý
nghĩa
rút
ra
từ
dụ
ngôn
trước
đó.
Ngược
lại,
Mátthêu
và
Máccô
đặt
dụ
ngôn
này
vào
sau
đoạn
trình
thuật
về
sự
việc
Đức
Maria
đến
gặp
Đức
Giêsu,
và
cả
hai
tác
giả
Tin
Mừng
này
đều
tách
riêng
hai
sự
việc
này
ra
khỏi
nhau
bằng
cách
đặt
chúng
vào
trong
những
bối
cảnh
khác
nhau.
Quả
thế,
khi
thuật
lại
biến
cố
kia,
nhờ
bỏ
qua
câu
hỏi
tu
từ
“Ai
là
mẹ
tôi?
Ai
là
anh
em
tôi?”
cũng
như
những
cử
chỉ
tiếp
theo
sau
đó,
nên
thánh
Luca
đã
tránh
được
việc
gây
ra
cảm
tưởng
cho
rằng
Đức
Maria
đã
bị
chối
từ.
Hơn
nữa,
mô
tả
bức
chân
dung
các
môn
đồ,
thay
vì
dùng
khái
niệm
“những
ai
thi
hành
ý
muốn
Thiên
Chúa,”
thì
để
cho
chi
tiết
hơn,
thánh
Luca
dùng
một
cách
biểu
đạt
khác:
“những
ai
nghe
lời
Thiên
Chúa
và
đem
ra
thực
hành.”
Và
đây
là
những
gì
ngài
trình
thuật
về
biến
cố
ấy:
“Mẹ
và
anh
em
Đức
Giêsu
đến
gặp
Người,
mà
không
làm
sao
lại
gần
được,
vì
dân
chúng
quá
đông.
Người
ta
báo
cho
Người
biết:
‘Thưa
Thầy,
có
mẹ
và
anh
em
Thầy
đang
đứng
ngoài
kia,
muốn
gặp
Thầy.’
Nhưng
Người
đáp
lại:
‘Mẹ
tôi
và
anh
em
tôi,
chính
là
những
ai
nghe
lời
Thiên
Chúa
và
đem
ra
thực
hành’”
(Lc
8:19-21).
Có
thể
dễ
dàng
cắt
nghĩa
đoạn
trình
thuật
này
theo
chiều
hướng
tích
cực.
Cách
nói
“Nhưng
Người
đáp
lại”
không
hề
hàm
dung
một
sự
tương
phản
rõ
rệt
nào.
Tiêu
chuẩn
Đức
Giêsu
đưa
ra
nhằm
xác
định
những
ai
là
thành
viên
trong
gia
đình
Người,
không
hề
dựa
trên
các
mối
quan
hệ
huyết
thống,
nhưng
chỉ
duy
nhất
dựa
vào
thái
độ
biết
lắng
nghe
và
thi
hành
lời
Thiên
Chúa.
Đọc
đoạn
trình
thuật
trên
đây
của
Luca,
độc
giả
không
có
lý
do
gì
để
nghĩ
rằng
mẹ
và
các
anh
em
của
Đức
Giêsu
đã
không
đáp
ứng
được
thứ
tiêu
chuẩn
ấy.
Những
đoạn
có
liên
hệ
đến
Đức
Maria
trong
các
tác
phẩm
của
thánh
Luca
có
thể
giúp
củng
cố
nhận
định
trên
đây.
Như
đã
nhắc
đến
trong
Cv
1:14,
thánh
Luca
đưa
Đức
Maria
và
các
anh
em
của
Đức
Giêsu
vào
danh
sách
thành
viên
của
cộng
đoàn
các
tín
hữu
hậu
biến
cố
phục
sinh.
Và
trong
đoạn
trình
thuật
về
thời
thơ
ấu
của
Đức
Giêsu,
ngài
đã
phác
họa
chân
dung
Đức
Maria
như
là
người
có
lòng
tin.
Câu
phát
biểu
của
Đức
Maria
trong
biến
cố
Truyền
tin
là
lời
miêu
tả
hùng
hồn
nhất
về
con
người
và
thái
độ
của
ngài:
“Tôi
đây
là
nữ
tỳ
của
Chúa,
xin
Chúa
cứ
làm
cho
tôi
như
lời
sứ
thần
nói”
(Lc
1:38).
Tư
tưởng
lộ
hiện
qua
lời
phát
biểu
kia
cũng
giống
hệt
với
những
gì
chứa
đựng
trong
cụm
từ
“những
ai
lắng
nghe
lời
Thiên
Chúa
và
đem
ra
thực
hành.”
Điểm
khác
biệt
duy
nhất
là
về
mặt
ngữ
pháp:
Đức
Maria
phát
biểu
cụm
từ
đó
với
việc
dùng
đại
từ
nhân
xưng
ở
ngôi
thứ
nhất.
Cụm
từ
ấy
là
lời
mô
tả
Đức
Giêsu
dành
cho
các
môn
đồ
của
Người.
Đặt
lời
phát
biểu
ấy
nơi
môi
miệng
Đức
Maria,
là
thánh
Luca
muốn
nêu
bật
cho
thấy
rằng
Đức
Maria
quả
là
một
môn
đồ
đích
thực.
Ở
những
chỗ
khác
trong
cuốn
Tin
Mừng
của
mình,
thánh
Luca
cũng
đã
nối
kết
ý
niệm
về
môn
đồ
tính
với
Đức
Maria.
Trong
trình
thuật
về
biến
cố
đi
viếng,
có
thể
đọc
thấy
những
lời
lẽ
tán
dương
hết
mực
mà
bà
Êlidabét
dành
cho
Đức
Maria:
“Em
được
chúc
phúc
hơn
hết
mọi
người
phụ
nữ,
và
người
con
em
đang
cưu
mang
cũng
được
chúc
phúc...
Em
thật
có
phúc,
vì
đã
tin
rằng
Chúa
sẽ
thực
hiện
những
gì
Người
đã
nói
với
em”
(Lc
1:42.45).
Ở
đây,
thánh
Luca
đã
dùng
những
lời
nói
thốt
ra
từ
miệng
bà
Êlidabét
để
xác
nhận
sự
việc
Đức
Maria
đã
lắng
nghe
và
đón
nhận
lời
Thiên
Chúa.
Hay
nói
cách
khác,
Đức
Maria
là
một
môn
đồ.
Trình
thuật
một
biến
cố
khác,
tương
tự
với
biến
cố
đã
trình
bày,
thánh
Luca
cũng
nêu
bật
cho
thấy
tính
cách
đối
cực
giữa
các
mối
quan
hệ
gia
đình
và
việc
lắng
nghe
lời
Thiên
Chúa:
“Khi
Đức
Giêsu
đang
giảng
dạy,
thì
giữa
đám
đông,
có
một
phụ
nữ
lên
tiếng
thưa
Người
rằng:
‘Phúc
thay
người
mẹ
đã
cưu
mang
và
cho
Thầy
bú
mớm!’
Nhưng
Người
đáp
lại:
‘Kẻ
lắng
nghe
và
tuân
giữ
lời
Thiên
Chúa
thì
có
phúc
hơn’”
(Lc
11:27-28).
Một
lần
nữa,
ở
đoạn
trình
thuật
này,
tác
giả
muốn
nhấn
mạnh
đến
sự
việc
Đức
Giêsu
có
thái
độ
đề
cao
mối
liên
hệ
môn
đồ
hơn
mối
quan
hệ
gia
đình.
Ngay
cả
lời
khen
ngợi
dành
cho
mẹ
Đức
Giêsu
của
người
phụ
nữ
này
cũng
chỉ
là
chuyện
phụ,
bởi
cái
chính
chị
muốn
nhắm
đến
là
việc
bày
tỏ
thái
độ
ca
ngợi
dành
cho
Đức
Giêsu.
Thực
ra,
thốt
lên
lời
khen
ấy,
là
chị
muốn
nói
thế
này:
“Thầy
thật
tuyệt
vời
biết
mấy;
mẹ
Thầy
ắt
phải
hãnh
diện
về
Thầy
lắm
đấy!”
Hơn
nữa,
ở
đây,
đọc
câu
trả
lời
của
Đức
Giêsu
(“...thì
có
phúc
hơn”),
độc
giả
có
thể
nghĩ
rằng
Đức
Giêsu
đang
có
ý
làm
“bẽ
mặt”
mẹ
Người.
Tuy
nhiên,
dưới
ánh
sáng
của
những
gì
đọc
thấy
ở
những
chỗ
khác
trong
Tin
Mừng
Luca,
có
thể
quả
quyết
rằng
cách
nghĩ
như
thế
là
hoàn
toàn
không
có
lý
do
hay
cơ
sở
xác
đáng.
Hai
văn
đoạn
ấy
đều
mang
những
nét
tương
đồng
rất
đáng
lưu
ý.
Cả
bà
Êlidabét
lẫn
người
phụ
nữ
kia
đều
ca
ngợi
vai
trò
làm
mẹ
về
mặt
thể
xác
của
Đức
Maria.
Tuy
nhiên,
sự
việc
không
chỉ
dừng
lại
ở
đó.
Êlidabét
còn
tiếp
tục
khen
Đức
Maria
về
việc
ngài
tin
rằng
Thiên
Chúa
sẽ
thực
hiện
mọi
lời
Người
đã
hứa,
còn
Đức
Giêsu
thì
tỏ ý
khen
ngợi
những
ai
biết
lắng
nghe
và
tuân
giữ
lời
Thiên
Chúa.
Cả
hai
sự
việc
ấy
đều
cho
thấy
rõ
thêm
tính
cách
cần
thiết
của
thái
độ
kiên
trì
trong
việc
đón
nhận
lời
Thiên
Chúa;
chỉ
nghe
lời
Chúa
không
thôi
thì
chưa
đủ.
Tinh
thần
môn
đồ
chẳng
phải
là
thứ
ước
muốn
mơ
hồ
hoáng
qua,
nhưng
là
thái
độ
cam
kết
dấn
thân
trọn
vẹn
và
kéo
dài
suốt
cả
cuộc
đời.
Sau
hết,
có
thể
đọc
thấy
một
sự
việc
được
thánh
Luca
lặp
lại
hai
lần,
đó
là:
“Đức
Maria
hằng
ghi
nhớ
mọi
kỷ
niệm
ấy,
và
suy
đi
nghĩ
lại
trong
lòng”
(2:19),
và
“mẹ
Người
hằng
ghi
nhớ
trong
lòng
tất
cả
những
điều
ấy”
(2:51).
Có
thể
nhận
thấy
rõ
một
mối
liên
hệ
đối
sánh
giữa
hai
câu
này
với
câu
“những
ai
lắng
nghe
và
tuân
giữ
lời
Thiên
Chúa”
(11:28).
Dù
hai
câu
vừa
trưng
có
thể
chỉ
là
một
lối
biểu
đạt
kinh
thánh
nhằm
diễn
tả
thái
độ
phản
ứng
của
con
người
khi
đứng
trước
những
hành
động
Thiên
Chúa
tỏ
lộ
ra,
thì
cũng
không
phải
vì
thế
mà
không
có
cơ
sở
để
rút
ra
nhận
định
này
là:
với
việc
hai
lần
nhắc
đến
Đức
Maria
qua
hai
câu
viết
kia,
thánh
Luca
muốn
nêu
bật
cho
thấy
rằng
Đức
Maria
hoàn
toàn
hội
đủ
những
điều
kiện
cần
thiết
để
được
coi
là
môn
đồ,
dựa
theo
cách
mô
tả
của
Đức
Giêsu
về
môn
đồ
tính.
Trong
toàn
bộ
Tin
Mừng
của
mình,
thánh
Luca
đã
nhắc
đến
cả
thảy
sáu
lần
ý
niệm
về
việc
lắng
nghe
và
thực
thi
lời
Thiên
Chúa;
và
ngài
cũng
đã
áp
dụng
điều
này
vào
trường
hợp
Đức
Maria.
Điều
đó
–
cọng
với
việc
ngài
minh
nhiên
kể
Đức
Maria
vào
số
các
thành
viên
của
cộng
đoàn
Giáo
hội
sơ
khai,
như
đọc
thấy
trong
sách
Công
vụ
Tông
đồ –
chính
là
bằng
chứng
đầy
sức
thuyết
phục
cho
thấy
Đức
Maria
đã
thực
sự
được
coi
là
một
môn
đồ.
Bởi
thế,
trong
cách
hiểu
của
thánh
Luca,
ý
niệm
môn
đồ
tính
bao
hàm
hai
yếu
tố:
việc
lắng
nghe
lời
Thiên
Chúa
(xuất
phát
từ
miệng
Đức
Giêsu,
hoặc
từ
các
sứ
giả
của
Thiên
Chúa,
hay
từ
những
biến
cố
cuộc
sống)
và
việc
ứng
dụng
lời
ấy
vào
trong
cuộc
sống
(“ghi
nhớ,”
“tuân
giữ,”
“suy
đi
nghĩ
lại
trong
lòng”).
Có
thể
nhận
ra
rằng,
tương
ứng
với
hai
yếu
tố
này,
cần
phải
có
một
hành
động
sáng
kiến
từ
phía
Thiên
Chúa
và
một
thái
độ
đáp
trả
từ
phía
con
người.
Trước
tiên,
Thiên
Chúa
phải
ngỏ
lời
hoặc
mạc
khải
về
chính
mình
theo
cách
thức
nào
đó,
rồi
người
môn
đồ
mới
có
thể
lắng
nghe.
Tuy
nhiên,
cũng
là
điều
quan
trọng
không
kém,
việc
người
môn
đồ
phải
có
thái
độ
và
hành
động
đáp
trả
đối
với
những
gì
mình
đã
nghe
thấy
được.
Việc
lắng
nghe
lời
Thiên
Chúa
phải
khơi
dậy
được
trong
bản
thân
người
môn
đồ
một
hành
động
phản
ứng
có
sức
thay
đổi
tận
căn
cuộc
đời
mình.
Một
kiểu
thái
độ
phản
ứng
tạm
thời
không
thôi
thì
chưa
thể
được
coi
là
đủ;
người
có
kiểu
thái
độ
như
thế
thì
cũng
giống
hệt
như
việc
hạt
giống
rơi
nhằm
trên
đá
sỏi
(x.
Mt
13:5-6.20-21;
Lc
8:6.13).
Kiên
trì
đến
cùng
là
thái
độ
thiết
yếu
người
môn
đồ
phải
có;
và
do
vậy,
cuộc
thay
đổi
phải
trở
thành
một
cuộc
tái
định
hướng
cuộc
đời
tận
gốc
rễ;
bởi
chỉ
khi
nào
được
gieo
trên
đất
tươi
màu
mỡ,
thì
hạt
giống
mới
có
thể
trổ
mầm
và
sinh
hạt
gấp
trăm
(x.
Mt
13:8.23;
Lc
8:8.15).
Đức
Maria
là
môn
đồ,
bởi
ngài
đã
đáp
ứng
trọn
vẹn
những
yếu
tố
cùng
điều
kiện
làm
nên
cương
vị
ấy:
đây
là
điều
được
trình
bày
rõ
ràng
qua
các
bản
viết
của
Luca;
và
những
gì
được
ghi
lại
trong
Tin
Mừng
thánh
Gioan
–
như
bài
viết
sẽ
triển
khai
dưới
đây
–
cũng
giúp
củng
cố
điểm
giáo
huấn
này.
ĐỨC
MARIA:
MÔN
ĐỒ
VÀ
HIỀN
MẪU
Giáo
huấn
tương
đối
rõ
ràng
về
sự
việc
Đức
Giêsu
có
thái
độ
coi
trọng
cương
vị
môn
đồ
hơn
chức
vị
làm
mẹ,
như
đọc
thấy
trong
các
Tin
mừng
Nhất
lãm,
đã
cho
thấy
nét
tương
phản
rõ
rệt
với
lối
quan
niệm
nhấn
mạnh
đến
địa
vị
mẫu
hệ
thần
linh
của
Đức
Maria,
như
đọc
thấy
trong
đường
hướng
tư
tưởng
của
nền
Thánh
Mẫu
học
về
sau.
Theo
Luca,
trong
cách
nhìn
của
Đức
Giêsu,
cương
vị
môn
đồ
của
Đức
Maria
thì
quan
trọng
hơn
cả
chức
vị
làm
mẹ
của
ngài.
Như
vậy,
phải
làm
thế
nào
để
có
thể
dung
hòa
được
cách
hiểu
ấy
với
giáo
huấn
minh
bạch
và
bất
biến
của
Giáo
hội
vốn
chủ
yếu
dựa
vào
vai
trò
làm
mẹ
Đức
Giêsu
Kitô
–
Thiên
Chúa
và
là
người
–
của
Đức
Maria
để
mà
tuyên
tôn
ngài?
Để
có
thể
giải
quyết
vấn
đề
vừa
nêu,
thiết
tưởng
phải
lấy
vai
trò
người
môn
đồ
hoàn
hảo
của
Đức
Maria
làm
mô
biểu
để
dựa
vào
mà
tìm
hiểu
và
giải
thích
về
địa
vị
mẫu
hệ
thần
linh
của
ngài.
Như
thế,
mẫu
tính
của
Đức
Maria
nhất
thiết
phải
được
hiểu
trong
ánh
sáng
môn
đồ
tính
của
ngài,
chứ
không
phải
ngược
lại.
Phương
cách
tiếp
cận
này
sẽ
có
được
một
số
điểm
thuận
lợi
như
sau:
nó
sẽ
dành
cho
chứng
từ
kinh
thánh
một
chỗ
đứng
thích
đáng;
nó
sẽ
tỏ
rõ
cho
thấy
rằng
giáo
huấn
về
sau
của
Giáo
hội
là
hoàn
toàn
nhất
quán
và
phù
hợp
với
quan
niệm
về
tính
cách
ưu
việt
của
môn
đồ
tính
như
được
hiểu
trong
các
sách
Tin
mừng;
và
sau
nữa,
nó
sẽ
giúp
cho
có
được
một
cách
hiểu
mới
mẻ
về
chức
vị
làm
mẹ
của
Đức
Maria,
để
rồi
địa
vị
làm
mẹ
Đức
Giêsu
của
ngài
sẽ
được
tuyên
tôn
cùng
với
những
giá
trị
đích
thực
của
Tin
mừng.
Mối
kết
liên
giữa
lòng
tin
với
môn
đồ
tính
đã
được
vững
chãi
định
hình
trong
tâm
thức
kitô.
Thực
vậy,
sẽ
là
chuyện
khó
mà
tưởng
tượng
cho
được
việc
một
người
muốn
trở
thành
môn
đồ
của
Đức
Kitô
nhưng
lại
không
có
lòng
tin
vào
Người.
Trong
các
sách
Tin
mừng,
lòng
tin
được
mô
tả
theo
các
thuật
ngữ
đã
khá
quen
thuộc
với
độc
giả
trong
thiên
khảo
luận
này:
thi
hành
thánh
ý
Thiên
Chúa
(x.
Mc
3:35),
nghe
lời
Thiên
Chúa
và
đem
ra
thực
hành
(x.
Lc
8:21),
lắng
nghe
và
tuân
giữ
lời
Thiên
Chúa
(x.
Lc
11:28).
Bởi
đó,
thái
độ
đón
nhận
lời
Thiên
Chúa
–
tức,
hành
vi
đức
tin,
hay
lòng
tin
– là
một
điều
kiện
thiết
yếu
đối
với
những
ai
muốn
trở
thành
môn
đồ;
về
mối
liên
hệ
khăng
khít
ấy –
giữa
lòng
tin
và
môn
đồ
tính
–
thánh
Gioan
đã
phát
biểu
rõ
ràng
như
sau:
“Nếu
các
ông
ở
lại
trong
lời
tôi,
thì
các
ông
thật
là
môn
đệ
tôi”
(Ga
8:31).
Từ
rất
lâu,
trong
truyền
thống
kitô,
Đức
Maria
đã
được
nhìn
nhận
như
là
“người
nữ
có
lòng
tin.”
Người
đầu
tiên
đứng
lên
bảo
vệ
danh
hiệu
này
cho
Đức
Maria
chính
là
thánh
Âugutinô,
và
những
lời
lẽ
chứng
thực
hết
sức
hùng
hồn
và
thuyết
phục
của
ngài
về
lòng
tin
của
Đức
Maria
vẫn
còn
tiếp
tục
ngân
dài
qua
mọi
thời
đại,
thấm
nhuần
vào
nếp
suy
nghĩ
của
những
thế
hệ
hậu
duệ
các
thánh
nhân
và
các
nhà
tư
tưởng,
mãi
đến
tận
ngày
nay.
Danh
hiệu
ấy
mặc
lấy
một
ý
nghĩa
quan
trọng
hệt
như
cách
gọi
“người
môn
đồ
hoàn
hảo”
dành
cho
Đức
Maria;
danh
hiệu
ấy
nhấn
mạnh
đến
thái
độ
sống
đức
tin
của
Đức
Maria,
trong
khi
cách
gọi
“người
môn
đồ
hoàn
hảo”
lại
có
thể
bao
hàm
hết
mọi
ý
nghĩa
biểu
đạt
trong
Kinh
Thánh,
xoay
quanh
khái
niệm
môn
đồ
tính.
Tuy
nhiên,
để
có
được
một
cách
hiểu
thích
đáng
và
đầy
đủ
về
môn
đồ
tính,
thì
cần
phải
lấy
lòng
tin
làm
ý
niệm
nòng
cốt,
trung
tâm.
Rõ
ràng
là
thánh
Âugutinô
đã
xem
xét
lòng
tin
của
Đức
Maria
dựa
trên
thái
độ
dấn
thân
của
Đức
Maria
vào
niềm
tin
của
mình.
Thái
độ
sống
niềm
tin
ấy
được
xác
minh
qua
lời
chứng
của
bà
Êlidabét,
như
đã
được
trích
dẫn:
“Em
thật
có
phúc,
vì
đã
tin
rằng
Chúa
sẽ
thực
hiện
những
gì
Người
đã
nói
với
em”
(Lc
1:45).
Có
thể
nhiều
người
đã
nghe
biết
nằm
lòng
câu
châm
ngôn
thời
danh
của
thánh
Âugutinô
về
việc
Đức
Maria
đầy
lòng
tin
đã
thụ
thai
Đức
Kitô
trong
tâm
hồn
mình
trước,
rồi
sau
mới
thụ
thai
Người
trong
dạ
của
mình:
“illa
[Maria]
fide
plena
et
Christum
prius
mente
quam
ventre
concipiens.”
Nhưng
có
lẽ
lại
ít
người
biết
đến
một
nhận
định
vô
cùng
sắc
bén
khác
của
ngài.
Không
những
ưu
tiên
nhấn
mạnh
đến
sự
việc
Đức
Maria
thụ
thai
Đức
Kitô
trong
đức
tin,
thánh
Âugutinô
còn
nhận
định
cho
rằng
chính
với
thái
độ
tin
tưởng
như
thế,
Đức
Maria
mới
thụ
thai
con
mình
trong
dạ:
“Maria
credendo
concepit
sine
viro.”
Trong
một
đoạn
bài
giảng
khác,
ngài
đã
trình
bày
rất
rõ
ràng
về
điểm
này:
“Virgo
ergo
Maria
non
concubuit
et
concepit,
sed
cre-didit
et
concepit.”
Không
có
quan
hệ
vợ
chồng
mà
Đức
Nữ
Trinh
Maria
vẫn
thụ
thai:
ngài
đã
tin
và
đã
thụ
thai.
Hay
nói
cách
khác,
hành
động
có
tính
cách
con
người
mà
ngài
đã
thực
hiện
để
thụ
thai
con
mình,
không
phải
là
hành
động
âu
yếm
kết
hợp
thể
xác
với
chồng
mình,
nhưng
là
hành
vi
đức
tin
sâu
đậm
đối
với
Thiên
Chúa.
Một
người
vợ
thường
dâng
mình
cho
chồng
trong
tình
yêu
và
niềm
tin
tưởng
để
rồi
thụ
thai;
còn
Đức
Maria
thì
đã
dâng
mình
cho
Thiên
Chúa
trong
đức
tin
và
đức
ái,
và
đã
thụ
thai.
“Xin
Chúa
cứ
làm
cho
tôi
như
lời
sứ
thần
nói.”
Nếu
đặt
câu
hỏi
rằng
Đức
Maria
đã
làm
gì
để
thụ
thai
Đức
Kitô,
thì
câu
trả
lời
sẽ
chỉ
đơn
giản
như
sau:
ngài
đã
thực
hiện
một
hành
vi
đức
tin;
và
rồi,
“Ngôi
Lời
đã
trở
nên
người
phàm”
(Ga
1:14).
Tuy
nhiên,
phải
hiểu
cho
rõ
rằng
đó
không
đơn
thuần
chỉ
là
một
hành
vi
đức
tin
tựa
như
hành
vi
đức
tin
của
bất
kỳ
một
người
môn
đồ
nào,
nhưng
còn
hơn
thế
nữa;
chính
nhờ
hành
vi
đức
tin
mạnh
mẽ
ấy
mà
Đức
Maria
đã
thụ
thai
và
trở
thành
mẹ
Thiên
Chúa.
Bởi
đó,
lòng
tin
của
Đức
Maria
–
trong
tư
cách
ngài
là
một
môn
đồ
“lắng
nghe
lời
Thiên
Chúa
và
đem
ra
thực
hành”
–
chính
là
nguyên
nhân
(về
phía
ngài)
giúp
giải
thích
tư
cách
làm
mẹ
của
ngài.
Địa
vị
làm
mẹ
của
ngài
phải
được
hiểu
trong
ánh
sáng
cương
vị
môn
đồ
của
ngài.
Đứng
về
phía
ngài
mà
xét,
thì
sự
việc
ngài
thụ
thai
Đức
Kitô
đầu
tiên
và
trước
hết
là
một
biến
cố
của
lòng
tin,
và
có
nhìn
ngài
như
một
môn
đồ,
thì
mới
thấy
hết
được
ý
nghĩa
trọn
vẹn
của
vai
trò
ngài
đóng
giữ
trong
biến
cố
Nhập
Thể.
Mọi
tư
tưởng
trong
cách
quan
niệm
này
không
hề
chối
bỏ
vai
trò
độc
nhất
vô
nhị
mà ý
niệm
về
địa
vị
mẫu
hệ
thần
linh
đóng
giữ
trong
lề
lối
nhận
thức
về
Đức
Maria
của
một
kitô
hữu.
Địa
vị
làm
mẹ
Thiên
Chúa
của
ngài
chính
là
điều
tuyệt
vời
nhất
về
ngài;
đó
là
đặc
ân
cao
cả
nhất
của
ngài.
Không
có
bất
cứ
điều
gì –
kể
cả
tư
cách
là
người
môn
đồ
hoàn
hảo
của
ngài
cũng
không
– có
thể
làm
hạ
thấp
đi
phẩm
giá
cao
cả
tột
bực
ngài
có
trong
địa
vị
mẹ
Thiên
Chúa-làm-người,
Đức
Giêsu
Kitô.
Hơn
nữa,
từ
thuở
đời
đời,
Thiên
Chúa
đã
tiền
định
về
việc
Đức
Maria
sẽ
trở
thành
mẹ
Thiên
Chúa;
và
kế
hoạch
tiền
định
này
tất
cũng
đã
bao
hàm
cả
một
điều
kiện
thiết
yếu
là
cương
vị
môn
đồ
tính
của
ngài,
bởi
sẽ
chẳng
thể
nào
quan
niệm
được
việc
Đức
Maria
có
thể
trở
thành
mẹ
đồng
trinh
của
Thiên
Chúa,
thụ
thai
nhờ
lòng
tin,
mà
lại
không
đồng
thời
là
một
môn
đồ.
Như
thế,
sự
việc
ngài
đã
được
Thiên
Chúa
tiền
định
từ
đời
đời
để
trở
thành
mẹ
Người,
có
một
chỗ
đứng
ưu
tiên
hàng
đầu,
vượt
lên
trên
hết
mọi
vấn
đề
đáng
quan
tâm
xem
xét
khác
trong
mầu
nhiệm
về
Đức
Maria.
Nếu
dùng
các
thuật
ngữ
kinh
viện
để
biểu
đạt,
thì
phải
nói
rằng
địa
vị
mẫu
hệ
thần
linh
đã
được
tiền
định
của
Đức
Maria
là
nguyên
nhân
cứu
cánh
và
định
loại
(final
and
specificative
cause)
của
mọi
đặc
ân
khác
ngài
có
(kể
cả
cương
vị
người
môn
đồ
hoàn
hảo
của
ngài).
Chính
xác
mà
nói,
xét
theo
phương
diện
hữu
thể
học,
thì
đó
chính
là
đệ
nhất
nguyên
nhân
(first
of
the
causes).
Tuy
nhiên,
xét
trong
trật
tự
thời
gian,
thì
lòng
tin
và
cương
vị
môn
đồ
của
ngài
có
trước
địa
vị
làm
mẹ
của
ngài;
và ở
đây,
chúng
là
nguyên
nhân
mô
thức
và
chuẩn
bị (formal
and
dispositive
cause),
tạo
điều
kiện
sẵn
sàng
để
Đức
Maria
có
thể
dự
phần
vào
nguyên
nhân
tính
(causality)
của
biến
cố
Nhập
Thể
(tất
nhiên
là
với
một
vai
trò
phụ
thuộc)
qua
việc
thụ
thai
Đức
Kitô
trong
dạ
mình
nhờ
hành
vi
đức
tin
(nguyên
nhân
tác
thành
–
efficient
causality).
Thoạt
đầu,
việc
công
nhận
chỗ
đứng
ưu
tiên
tuyệt
đối
của
địa
vị
mẫu
hệ
thần
linh
trong
mầu
nhiệm
về
Đức
Maria,
có
vẻ
như
có
tính
cách
mâu
thuẫn
với
việc
đề
xuất
ý
niệm
lấy
tư
cách
môn
đồ
hoàn
hảo
của
Đức
Maria
làm
mô
biểu
cho
các
cuộc
nghiên
cứu
về
ngài.
Nhưng
kỳ
thực,
không
có
điều
gì
là
mâu
thuẫn
ở
đây
cả.
Xét
theo
trật
tự
hữu
thể
học
–
tức
theo
trật
tự
của
thực
tại,
của
bản
chất
sự
vật
–
thì
địa
vị
làm
mẹ
Thiên
Chúa
đã
được
tiền
định
của
Đức
Maria
chiếm
vị
trí
ưu
tiên,
có
trước
mọi
điều
khác.
Mọi
biến
cố
xảy
đến
với
ngài
sở
dĩ
đã
xuất
hiện
vào
thời
điểm
và
theo
cách
thức
chính
xác
như
đã
thấy,
chính
là
bởi
vì
ngài
đã
được
tiền
định
từ
đời
đời
để
trở
thành
mẹ
Ngôi
Lời
Nhập
Thể.
Cái
được
tiền
định
đó
là
điều
có
trước
tiên
xét
về
trật
tự
hữu
thể,
bởi
theo
ý
nghĩa
thực
sự,
nó
là
nguyên
nhân
của
–
hoặc
có
tác
động
gây
ra
nguyên
nhân
cho
–
mọi
điều
khác
đã
xảy
đến
với
ngài,
và
những
nguyên
nhân
ấy,
xét
về
trật
tự
hữu
thể,
đều
có
trước
những
hậu
quả
của
chúng.
Tuy
nhiên,
địa
hạt
hữu
thể
luận
không
phải
là
“đất
dụng
võ”
của
một
mô
biểu
bất
kỳ.
Mô
biểu
cũng
không
phải
là
một
loại
nguyên
tắc
nền
tảng.
Ngược
lại,
vai
trò
của
nó
lại
nằm
ở
trong
địa
hạt
tri
thức:
nó
là
một
mô
hình
nhận
thức
luận,
chứ
không
phải
một
nguyên
tắc
hữu
thể
luận.
Vai
trò
của
một
mô
biểu
không
nhằm
vào
việc
giúp
xác
định
ra
căn
nguyên
của
một
chuỗi
quan
hệ
nhân
quả
trong
thực
tại;
vai
trò
của
nó
là
đề
ra
một
quan
điểm
quy
chiếu
giúp
tìm
hiểu
toàn
bộ
mầu
nhiệm.
Nó
có
nhiệm
vụ
phải
đề
ra
cho
được
một
ý
niệm
chủ
đạo,
có
tính
cách
soi
sáng,
giúp
giải
thích
và
định
loại
được
các
khía
cạnh
khác
nhau
của
mầu
nhiệm.
Ý
niệm
chủ
đạo
đó
phải
hội
đủ
nơi
nó
tính
cách
thoáng
rộng
và
phong
phú
cần
thiết
nhằm
có
thể
giúp
lý
giải
được
hết
mọi
khía
cạnh
khác
nằm
trong
phạm
vi
của
mầu
nhiệm.
Như
thế,
mô
biểu
không
nhất
thiết
phải
chiếm
giữ
vị
trí
đứng
đầu
trong
trật
tự
thực
tại;
đó
không
phải
là
nhiệm
vụ
của
nó.
Vả
lại,
lãnh
vực
tự
nhiên
và
lãnh
vực
nhận
thức
không
nằm
trên
những
đường
thẳng
song
song
với
nhau,
và
lĩnh
vực
này
cũng
chẳng
phải
là
chiếc
gương
phản
chiếu
lĩnh
vực
kia.
Chẳng
phải
thánh
Tôma
Aquinô
đã
từng
nhận
định
cho
rằng
những
gì
ưu
tiên
trong
lãnh
vực
nhận
thức
thường
đối
lập
hoàn
toàn
với
những
gì
ưu
tiên
trong
lãnh
vực
tự
nhiên
đó
sao?
Bởi
đó,
chẳng
có
gì
trở
ngại
trong
việc
nhìn
nhận
chỗ
đứng
ưu
việt
tuyệt
đối
của
địa
vị
mẫu
hệ
thần
linh
bên
trên
mọi
phẩm
tính
khác
của
Đức
Maria,
trong
khi
vẫn
có
thể
cùng
lúc
quả
quyết
được
rằng
cương
vị
môn
đồ
hoàn
hảo
của
ngài
chiếm
giữ
một
chỗ
đứng
hàng
đầu
trong
vai
trò
làm
mô
biểu
cho
Thánh
Mẫu
học.
Bởi
vì,
địa
vị
mẫu
hệ
thần
linh
thì
liên
quan
đến
lãnh
vực
thực
tại,
còn
cương
vị
môn
đồ
hoàn
hảo
thì
lại
liên
quan
đến
lãnh
vực
nhận
thức.
Quả
thế,
chính
trong
ánh
sáng
của
tính
cách
môn
đồ
hoàn
hảo,
mà
mẫu
tính
của
Đức
Maria
mới
có
thể
được
nhìn
rõ
như
là
triều
thiên
vinh
quang
của
ngài.
Chỉ
khi
nhìn
rõ
được
thái
độ
hoan
hỷ
dâng
mình
và
hành
động
yêu
mến
đón
nhận
của
Đức
Maria,
thì
mới
thấy
ra
được
ý
nghĩa
của
điều
này.
Nói
cách
khác,
mẫu
tính
của
ngài
chính
là
yếu
tố
giúp
nâng
cao
giá
trị
môn
đồ
tính
của
ngài
–
việc
lắng
nghe
lời
Thiên
Chúa
và
suy
đi
ngẫm
lại
trong
lòng
–
đến
những
mức
độ
cao
cả
không
thể
ngờ
nổi.
Những
lời
của
chính
Đức
Giêsu
giờ
đây
đã
mặc
lấy
một
ý
nghĩa
quan
trọng
rất
đáng
lưu
ý:
“Mẹ
tôi...
chính
là
người
nghe
lời
Thiên
Chúa
và
đem
ra
thực
hành.”
Lời
Thiên
Chúa
mà
ngài
nghe
và
ấp ủ
trong
lòng
không
đơn
thuần
chỉ
là
một
sứ
điệp
xuất
phát
từ
Thiên
Chúa:
đó
còn
là
một
Ngôi
vị
thần
linh,
Con
duy
nhất
của
Thiên
Chúa,
hình
ảnh
hoàn
hảo
biểu
lộ
dung
mạo
của
chính
Thiên
Chúa.
Bởi
đó,
việc
bảo
rằng
cương
vị
môn
đồ
của
Đức
Maria
là
một
mô
biểu
Thánh
Mẫu
học,
thì
không
đồng
nghĩa
với
việc
cho
rằng
cương
vị
môn
đồ
ấy
chính
là
một
nguyên
tắc
nền
tảng.
Là
không
hợp
lý,
việc
dựa
vào
cương
vị
môn
đồ
của
Đức
Maria
để
suy
diễn
về
địa
vị
mẫu
hệ
thần
linh
hay
bất
kỳ
một
đặc
ân
nào
khác
của
ngài.
Đúng
hơn,
cương
vị
môn
đồ
của
ngài
là
mô
biểu
đề
ra
một
quan
điểm
để
dựa
vào
đó
mà
quan
sát
và –
dưới
ánh
sáng
của
mô
biểu
ấy –
giải
thích
các
phẩm
tính
của
ngài.
Có
thể
trưng
ra
đây
lời
nhận
định
có
tính
cách
chung
quyết
của
thánh
Âugutinô:
“Giả
như
Đức
Maria
không
vui
mừng
với
việc
được
cưu
mang
Đức
Kitô
trong
tâm
hồn
mình,
hơn
là
với
việc
ngài
được
cưu
mang
Đức
Kitô
trong
thân
xác
mình,
thì
hẳn
là
mối
liên
hệ
trong
tư
cách
làm
mẹ
của
Đức
Maria
đã
không
sinh
được
ích
lợi
gì
cho
ngài.”
Việc
nhận
định
cho
rằng
Đức
Maria
đã
là
một
môn
đồ
trước
khi
ngài
thụ
thai
Đức
Kitô,
có
thể
vấp
phải
nhiều
ý
kiến
phản
đối
coi
đó
là
một
tuyên
bố
quá
đà.
Nếu
hiểu
rằng
môn
đồ
là
người
tuyệt
đối
toàn
tâm
toàn
ý
bước
theo
Đức
Kitô,
thì
ý
kiến
phản
đối
như
thế
là
có
lý.
Tuy
nhiên,
không
nhất
thiết
phải
hiểu
tính
cách
môn
đồ
của
Đức
Maria
duy
nhất
theo
cách
đó.
Không
có
bất
kỳ
lý
do
nào
để
dựa
vào
mà
nghĩ
rằng
Đức
Maria
đã
không
trưởng
thành
lên
trong
cách
hiểu
về ý
nghĩa
của
vai
trò
môn
đồ
suốt
trong
quãng
đời
còn
lại
của
ngài.
Điều
kiện
tất
yếu
để
có
thể
trở
thành
môn
đồ
là
việc
“lắng
nghe
lời
Thiên
Chúa
và
đem
ra
thực
hành”
(Luca),
hoặc
“thi
hành
thánh
ý
Thiên
Chúa”
(Máccô).
Chắc
chắn
là
Đức
Maria
đã
hoàn
thành
điều
kiện
này
với
biến
cố
Truyền
Tin,
và
bởi
đó,
ngài
xứng
đáng
nhận
được
tước
hiệu
“môn
đồ.”
Và
ngài
cũng
đã
xứng
đáng
được
gọi
là
“môn
đồ
hoàn
hảo”
ngay
ở
thời
điểm
đó.
“Môn
đồ
hoàn
hảo”
không
phải
là
một
thuật
ngữ
định
danh
có
tính
cách
cố
định,
làm
như
thể
rằng
người
được
nhận
tước
hiệu
đó
là
người
đã
đạt
đến
đỉnh
điểm
hoàn
thiện
của
tư
cách
môn
đồ
và
không
còn
có
gì
để
tiến
lên
thêm
nữa.
Trong
biến
cố
Truyền
Tin,
Đức
Maria
đã
thể
hiện
thái
độ
tuyệt
đối
vâng
nghe
lời
Thiên
Chúa
và,
do
đó,
đã
đích
thực
là
một
môn
đồ
hoàn
hảo
theo
mức
độ
trọn
vẹn
có
thể
xét
ngay
ở
thời
điểm
đó.
Tuy
nhiên,
trong
những
năm
về
sau,
lúc
Đức
Giêsu
đã
trưởng
thành
và
bắt
đầu
công
cuộc
rao
giảng
của
mình,
và
lời
Thiên
Chúa
được
phát
ngôn
qua
chính
môi
miệng
Người,
thì
các
điều
kiện
về
tư
cách
môn
đồ
đã
dần
dần
được
gia
tăng
nối
kết
với
sứ
vụ
của
Người.
Đức
Maria
đã
hoàn
toàn
đáp
ứng
được
những
điều
kiện
đòi
hỏi
mới
mẻ
này
và
đã
dần
trưởng
thành
lên
trong
các
mức
độ
hoàn
thiện
cho
đến
lúc
sứ
mạng
của
ngài
đạt
đến
đỉnh
điểm
dưới
chân
Thánh
giá.
HÌNH
ẢNH
ĐỨC
MARIA
MÔN
ĐỒ
TRONG
CÁC
BẢN
VIẾT
CỦA
GIOAN
Nếu
đã
buộc
phải
nhìn
nhận
rằng
mầu
nhiệm
về
địa
vị
làm
mẹ
của
Đức
Maria
vẫn
được
tiếp
diễn
trong
một
tiến
trình
liên
tục
kéo
dài
qua
trọn
cuộc
đời
của
Con
ngài
và
còn
vượt
xa
hơn
thế
–
chứ
không
kết
thúc
ngay
tại
biến
cố
Truyền
Tin
–
thì
tất
cũng
phải
có
một
cách
nhìn
tương
tự
như
thế
đối
với
cương
vị
môn
đồ
của
ngài.
Điều
này
có
thể
hiện
rõ
qua
các
văn
đoạn
kinh
thánh
khác
có
liên
quan
đến
Đức
Maria,
đặc
biệt
là
các
văn
đoạn
trong
cuốn
Tin
Mừng
Gioan.
Có
lẽ
Tin
Mừng
thứ
tư
đã
được
biên
soạn
với
mục
đích
giúp
uốn
nắn
và
hiệu
chỉnh
một
số
lập
trường
và
khuynh
hướng
đang
len
lỏi
thâm
nhập
vào
trong
Giáo
hội
ở
cuối
thế
kỷ
thứ
nhất.
Thời
đó,
thái
độ
kính
trọng
các
tín
hữu
dành
cho
các
tông
đồ
(nhóm
“Mười
Hai”)
đang
càng
lúc
càng
gia
tăng
thêm
lên,
và
để
chặn
đứng
lại
những
kiểu
thái
độ
coi
trọng
quá
mức
như
thế,
“cuốn
Tin
Mừng
thứ
tư
đã
đề
cao
[hình
ảnh]
người
môn
đồ
và
không
bao
giờ
dùng
đến
thuật
ngữ
“tông
đồ”
theo
ý
nghĩa
chuyên
môn,
như
thể
Phúc
âm
gia
này
thực
sự
muốn
nhắc
các
kitô
hữu
nhớ
rằng
điều
quan
trọng
bậc
nhất
không
phải
là
việc
nhận
được
một
đoàn
sủng
giáo
hội
đặc
biệt
nào
đó
từ
nơi
Thiên
Chúa,
nhưng
là
việc
phải
nối
gót
bước
theo
Đức
Giêsu
và
vâng
giữ
lời
Người.”
Ở
hai
chỗ
trong
Tin
Mừng
theo
Gioan,
hình
ảnh
Đức
Maria
hiện
lên
rõ
nét
và
nổi
bật
nhất:
tại
tiệc
cưới
Cana
và
dưới
chân
Thánh
Giá.
Trong
trình
thuật
về
tiệc
cưới
Cana,
cuộc
đối
thoại
giữa
Đức
Maria
với
Đức
Giêsu
đóng
giữ
một
vai
trò
quan
trọng
trong
việc
giúp
cho
dễ
dàng
hiểu
được
mối
quan
hệ
giữa
Đức
Maria
với
Con
của
ngài.
Raymond
Brown
đã
nhận
thấy
trong
lời
đối
thoại
“Thưa
bà,
chuyện
đó
can
gì
đến
bà
và
con?
Giờ
của
con
chưa
đến”
một
thứ
âm
điệu
vang
vọng
ý
nghĩa
các
đoạn
trình
thuật
của
Máccô
và
Luca
đã
được
bàn
đến
trên
đây,
theo
đó
các
mối
quan
hệ
gia
đình
không
hề
mặc
lấy
một
ý
nghĩa
quan
trọng
nào,
và
ngay
cả
mẹ
Đức
Giêsu
cũng
phải
được
đánh
giá
dựa
theo
tiêu
chuẩn
của
việc
lắng
nghe
và
thi
hành
lời
Thiên
Chúa.
Ở
đây,
dễ
có
cảm
tưởng
rằng
những
lời
ấy
của
Đức
Giêsu
ẩn
chứa
một
chút
ít
thái
độ
khiển
trách,
như
thể
rằng
Người
không
thấy
bằng
lòng
với
việc
mẹ
Người
đang
nhân
danh
quyền
làm
mẹ
mà
đưa
ra
yêu
cầu
cho
Người.
Đức
Giêsu
đã
vô
hiệu
hóa
thứ
cảm
tưởng
đó
khi
Người
nhắc
đến
“giờ”
Người
được
tôn
vinh
và
trở
về
với
Chúa
Cha
(x.
Ga
12:23;
13:1;
17:1).
Người
ám
chỉ
rằng
“giờ”
đó
được
định
đoạt
không
phải
theo
những
tính
toán
của
gia
đình,
nhưng
duy
nhất
dựa
vào
thánh
ý
Chúa
Cha
(x.
Ga
12:27):
đây
chính
là
nguyên
tắc
hướng
dẫn
về
tư
cách
môn
đồ
đích
thực.
Bởi
đó,
“trong
trình
thuật
về
tiệc
cưới
Cana,
cuộc
đối
thoại
giữa
Đức
Giêsu
và
Đức
Maria...
không
gì
hơn
là
một
thể
dạng
khác,
thuộc
về
một
truyền
thống
có
những
nét
phổ
biến
và
chung
với
truyền
thống
Nhất
lãm.”
Lời
nhận
định
giải
thích
thế
giá
của
Brown
trên
đây
mang
một
giá
trị
có
sức
ảnh
hưởng;
có
giá
trị,
bởi
vì
nó
có
liên
hệ
đến
cương
vị
môn
đồ
của
Đức
Maria.
Tuy
vậy,
cách
giải
thích
ấy
không
hoàn
toàn
thỏa
đáng.
Mối
liên
kết
ấy
với
truyền
thống
Nhất
lãm
hoàn
toàn
tùy
thuộc
vào
tính
cách
hợp
lý
của
lời
giải
thích.
Nhưng
tại
sao
lại
đưa
ra
lời
giải
thích
như
thế?
Đó
không
phải
là
một
cách
giải
thích
rõ
ràng
về
bản
văn
ấy
(dù
phải
thừa
nhận
rằng
đó
là
một
bản
văn
khó).
Các
đoạn
trình
thuật
trong
Tin
mừng
Nhất
lãm
và
câu
chuyện
về
tiệc
cưới
Cana
là
những
câu
chuyện
không
có
điểm
chung
nào
với
nhau,
và
chúng
cũng
chẳng
nhằm
vào
cùng
một
mục
đích
giống
nhau
của
các
Phúc
Âm
gia
thuộc
đôi
bên.
Mục
đích
chính
yếu
các
tác
giả
Nhất
lãm
muốn
nhắm
đến
là
nêu
bật
giáo
huấn
của
Đức
Giêsu
về
những
giá
trị
giúp
thiết
lập
nên
gia
đình
đích
thực
của
Người.
Còn
mục
đích
Gioan
nhằm
vào
khi
thuật
lại
câu
chuyện
về
tiệc
cưới
Cana,
thì
hoàn
toàn
khác
hẳn:
“Đức
Giêsu
đã
làm
dấu
lạ
đầu
tiên
này
tại
Cana,
miền
Galilê.
Người
đã
bày
tỏ
vinh
quang
của
Người,
và
các
môn
đệ
đã
tin
vào
Người”
(Ga
2:11).
Hơn
nữa,
cách
giải
thích
của
Brown
đã
làm
cho
vai
trò
của
Đức
Maria
bị
gói
gọn
vào
địa
vị
làm
mẹ
tự
nhiên
của
ngài.
Chẳng
phải
đợi
đến
“giờ”
của
Đức
Giêsu
trên
đồi
Canvariô,
thì
mới
nhận
ra
được
rằng
Đức
Maria
cũng
là
một
môn
đồ.
Tuy
nhiên,
cách
giải
thích
ấy
lại
bỏ
qua
bối
cảnh
hình
thành
của
câu
chuyện
về
tiệc
cưới
Cana.
Thánh
Gioan
đã
đặt
câu
chuyện
này
liền
sau
đoạn
trình
thuật
về
việc
Đức
Giêsu
kêu
gọi
các
môn
đồ
đầu
tiên,
và
ngài
liên
kết
Đức
Maria
với
các
môn
đồ
ấy
ngay
trong
câu
mở
đầu
đoạn
trình
thuật
về
tiệc
cưới
Cana.
“Hai
ngày
sau
đó,
có
tiệc
cưới
tại
Cana,
miền
Galilê.
Trong
tiệc
cưới,
có
thân
mẫu
Đức
Giêsu.
Đức
Giêsu
và
các
môn
đệ
cũng
được
mời
tham
dự”
(2:1-2).
Nhưng
để
kết
thúc
câu
chuyện
này,
thánh
Gioan
chỉ
đơn
thuần
nêu
lên
sự
việc
“các
môn
đệ
đã
tin
vào
Người,”
mà
không
nhắc
gì
đến
Đức
Maria,
có
lẽ
là
bởi
vì
lòng
tin
của
Đức
Maria
vào
Người
đã
không
phải
do
việc
chứng
kiến
phép
lạ
Người
vừa
làm
mà
có,
nhưng
đã
có
ngay
từ
lúc
ngài
lên
tiếng
can
thiệp
với
Con
mình.
Một
vấn
đề
gây
khó
khăn
thêm
nữa
trong
cách
giải
thích
của
Brown
chính
là
việc
có
vẻ
như
lối
trình
giải
này
đã
không
nêu
bật
được
chủ
ý
của
thánh
Gioan.
Rõ
ràng,
Đức
Maria
là
một
nhân
vật
quan
trọng
trong
câu
chuyện
kia.
Tác
giả
Tin
mừng
thứ
tư
hẳn
đã
không
đặt
Đức
Maria
vào
khung
cảnh
ấy
chỉ
với
chủ
ý
cho
thấy
rằng
lời
thỉnh
cầu
của
Đức
Maria
đã
bị
từ
chối,
và
rằng
địa
vị
làm
mẹ
của
ngài
không
hề
có
lấy
một
ý
nghĩa
nào
đối
với
Đức
Giêsu
trong
cuộc
đời
công
khai
của
Người.
Sự
việc
thánh
Gioan
giới
thiệu
Đức
Maria
như
là
nhân
vật
hàng
đầu
trong
câu
chuyện
và
gọi
ngài
bằng
tước
hiệu
“thân
mẫu
Đức
Giêsu”
– rõ
ràng
cho
thấy
một
tầm
quan
trọng
đặc
biệt,
nhất
là
khi
sự
việc
này
được
nhắc
lại
trong
khung
cảnh
Canvariô
về
sau
– và
một
điều
khác
rất
đáng
lưu
ý
nữa
là
trong
Tin
Mừng
Gioan,
Đức
Maria
xuất
hiện
chỉ
vào
lúc
khởi
đầu
và
vào
lúc
kết
thúc
sứ
vụ
của
Đức
Giêsu
mà
thôi;
thêm
vào
đó
là
phép
lạ
đầu
tiên
Đức
Giêsu
thực
hiện
chỉ
để
đáp
lại
lời
thỉnh
cầu
của
Đức
Maria:
tất
cả
những
sự
việc
này
đều
chung
quy
cho
thấy
rằng
đối
với
Gioan,
vai
trò
của
Đức
Maria
là
hết
sức
quan
trọng,
quan
trọng
hơn
nhiều
so
với
những
gì
có
thể
thấy
được
qua
cách
giải
thích
của
Brown.
Nếu
trong
biến
cố
Canvariô,
có
thể
nhìn
thấy
rõ
ràng
vai
trò
cả
làm
mẹ
lẫn
làm
môn
đồ
của
Đức
Maria,
thì
có
vẻ
như
là
chuyện
dĩ
nhiên
việc
nhìn
nhận
cho
rằng
ngài
đã
hiện
diện
ở
Cana
cũng
với
vai
trò
song
đôi
này.
Không
nhất
thiết
phải
đọc
thấy
trong
cách
hiểu
của
Gioan
về
Đức
Maria,
một
quá
trình
diễn
biến
theo
đà
hướng
tiến
triển
đi
từ
chỗ
vai
trò
làm
mẹ
của
ngài
bị
từ
chối,
ở
Cana,
đến
chỗ
ngài
được
hoàn
toàn
nhìn
nhận
như
là
một
môn
đồ,
ở
Canvariô.
Nếu
đã
nhận
định
cho
rằng
thánh
Luca
nhìn
Đức
Maria
ở
biến
cố
Truyền
tin
dưới
ánh
sáng
của
những
gì
ngài
biết
được
về
Đức
Maria
suốt
trong
sứ
vụ
và
trong
cộng
đoàn
Giáo
hội
hậu
biến
cố
phục
sinh,
thì
tại
sao
Brown
lại
không
sẵn
sàng
nhìn
nhận
rằng
thánh
Gioan
cũng
đã
có
cách
làm
tương
tự:
nhìn
Đức
Maria
nơi
biến
cố
Cana
dưới
ánh
sáng
của
những
gì
ngài
biết
được
về
Đức
Maria
nơi
biến
cố
Canvariô?
Brown
đã
dùng
một
giả
thuyết
do
R.
T.
Fortna
đề
xuất,
cho
rằng
đoạn
trình
thuật
của
Gioan
về
tiệc
cưới
Cana
được
hình
thành
căn
bản
dựa
trên
một
câu
chuyện
về
“phép
lạ”
đã
có
trước
đó,
và
rằng
chính
Gioan
đã
thêm
vào
nguyên
bản
câu
chuyện
ấy
đoạn
đối
thoại
giữa
Đức
Giêsu
và
Đức
Maria,
cho
dù
cuộc
đối
thoại
thêm
vào
ấy
tỏ
ra
không
thích
hợp
cho
mấy.
Xem
ra
rất
thú
vị
và
hấp
dẫn,
nhưng
giả
thuyết
này
sẽ
vấp
ngay
một
câu
hỏi
sừng
sững
mọc
lên:
thánh
Gioan
đã
thêm
vào
câu
chuyện
ấy
cuộc
đối
thoại
này
với
mục
đích
gì?
Khi
quyết
định
làm
như
thế,
hẳn
là
ngài
phải
có
sẵn
trong
đầu
một
chủ
ý rõ
ràng.
Brown
đọc
thấy
qua
những
lời
của
Đức
Giêsu
một
thái
độ:
Người
kiên
quyết
từ
chối
việc
đáp
ứng
lời
thỉnh
cầu
ẩn
ngầm
của
Đức
Maria;
và
sở
dĩ
Đức
Giêsu
lại
có
phản
ứng
chối
từ
như
thế
là
bởi
vì
Đức
Maria
đã
dựa
vào
mối
quan
hệ
gia
đình
ngài
có
với
Con
mình
để
đưa
ra
lời
thỉnh
cầu
này.
Tuy
nhiên,
khó
có
thể
cho
rằng
những
lời
của
Đức
Giêsu
lại
hàm
ý
một
thái
độ
chối
từ,
khi
mà
Người
đã
lập
tức
đáp
ứng
lời
thỉnh
cầu
kia.
Hơn
nữa,
có
thể
hiểu
như
thế
nào
về ý
nghĩa
câu
nói
“giờ
của
con
chưa
đến”
của
Đức
Giêsu,
khi
mà
“giờ”
của
Đức
Giêsu
chính
là
lúc
vinh
quang
của
Người
được
biểu
lộ
ra?
Bởi
vì,
đối
với
thánh
Gioan,
đây
là
ý
nghĩa
thiết
yếu
của
toàn
bộ
câu
chuyện
kia:
“Người
đã
bày
tỏ
vinh
quang
của
Người”
(Ga
2:11).
Tuy
nhiên,
bên
cạnh
đó,
còn
một
cách
giải
thích
khác
có
thể
coi
là
thỏa
đáng
hơn
về
đoạn
đối
thoại
này;
và
dù
cũng
dẫn
đến
cùng
một
kết
luận
tương
tự
như
của
Brown,
nhưng
–
theo
tác
giả
thiên
khảo
luận
này
–
cách
giải
thích
này
có
những
lý
lẽ
vững
chắc
và
có
sức
thuyết
phục
hơn.
Nghiên
cứu
kỹ
lưỡng
về
câu
hỏi
“Thưa
bà,
chuyện
đó
can
gì
đến
bà
và
con?”
Albert
Vanhoye
đã
đối
chiếu
câu
hỏi
này
với
những
kiểu
nói
tương
tự –
không
phải
là
hiếm
thấy
–
trong
Cựu
Ước,
và
đã
kết
luận
rằng,
xét
trong
mọi
trường
hợp,
kiểu
nói
ấy
đề
cập
đến
mối
quan
hệ
giữa
hai
người
với
nhau.
Mối
quan
hệ
này
thay
đổi
tùy
thuộc
vào
bối
cảnh:
đôi
khi,
đó
là
một
câu
hỏi
đặt
ra
nhằm
giúp
xác
định
các
yếu
tố
có
tính
cách
gắn
kết
đôi
bên
(xem
chẳng
hạn
Gs
22:24-25);
cũng
có
khi,
đó
là
một
câu
hỏi
nhằm
giúp
xác
định
những
yếu
tố
làm
đôi
bên
chia
rẽ
(xem
chẳng
hạn
Tl
11:12).
Bởi
đó,
trong
câu
chuyện
Cana,
tuy
không
có
thái
độ
quở
trách
–
cũng
như
không
hề
từ
chối
lời
yêu
cầu
của
–
Đức
Maria,
nhưng
Đức
Giêsu
lại
đang
muốn
nói
với
mẹ
Người
một
số
điều
về
mối
quan
hệ
giữa
hai
người
với
nhau.
Người
đang
đặt
vấn
đề
về
mối
liên
hệ
mẹ
Người
có
với
Người
cho
đến
lúc
ấy –
mối
quan
hệ
thân
tình
giữa
mẹ
với
con.
Người
đang
muốn
cho
thấy
rằng,
giờ
đây,
mối
quan
hệ
ấy
đã
được
nâng
lên
một
cấp.
Và
Người
ám
chỉ
điều
này
qua
việc
gọi
Đức
Maria
là
“bà,”
chứ
không
gọi
là
“mẹ”
nữa;
cách
gọi
“bà”
ở
đây
không
nhằm
mục
đích
gây
chướng
tai
để
tỏ
bày
thái
độ
từ
chối,
nhưng
là
kiểu
gọi
cho
thấy
rằng
Đức
Giêsu
không
còn
nhìn
mối
liên
hệ
giữa
Người
với
mẹ
mình
theo
cấp
độ
của
một
mối
quan
hệ
máu
mủ
ruột
rà
nữa.
Chính
những
lời
Người
nói
ra
tiếp
ngay
sau
đó
đã
giải
thích
lý
do
tại
sao
mối
quan
hệ
ấy
lúc
này
phải
trở
nên
như
thế.
Vanhoye
thích
cách
dịch
câu
nói
ấy
theo
thể
nghi
vấn:
“Giờ
của
con
chưa
đến
sao?”
hơn
là
theo
thể
khẳng
định:
“Giờ
của
con
chưa
đến.”
Cách
dịch
theo
thể
nghi
vấn
như
thế
là
cách
dịch
quen
thuộc
đối
với
các
Giáo
phụ
ngày
xưa,
và
là
cách
dịch
được
một
số
học
giả
ngày
nay
ủng
hộ.
Chính
Brown
cũng
phải
thừa
nhận
rằng
cách
dịch
đó
là
hoàn
toàn
hợp
lý.
Vanhoye
đã
quyết
liệt
tỏ
lập
trường
bênh
vực
cách
dịch
này.
Hiệu
quả
của
cách
dịch
theo
thể
nghi
vấn
này
hoàn
toàn
đối
nghịch
với
hiệu
quả
của
cách
dịch
theo
thể
khẳng
định;
trong
khi
cách
dịch
sau
cho
thấy
rằng
giờ
của
Đức
Giêsu
chưa
đến,
thì
cách
dịch
trước
lại
hàm
ý
rằng
giờ
đó
đã
thực
sự
đến
rồi.
Và
thánh
Gioan
khẳng
quyết
điều
này
qua
lời
nhận
định
kết
thúc
đoạn
trình
thuật
kia,
rằng
Đức
Giêsu
đã
làm
dấu
lạ
ấy
để
biểu
lộ
vinh
quang
của
Người.
Bởi
đó,
giờ
của
Đức
Giêsu
không
bị
gói
gọn
vào
thời
điểm
Người
ở
trên
đồi
Canvariô.
“Giờ”
ấy
đã
bắt
đầu
xuất
hiện
ở
Cana,
trải
dài
qua
sứ
vụ
của
Người
–
vào
bất
kỳ
lúc
nào
Người
làm
“dấu
lạ”
để
biểu
hiện
vinh
quang
và
uy
quyền
của
mình
– và
đạt
đến
thời
khắc
đỉnh
điểm
ở
trên
Canvariô
là
nơi
vinh
quang
của
Người
được
trọn
vẹn
biểu
lộ
qua
biến
cố
tử
nạn
và
phục
sinh.
Như
thế,
trong
cuộc
đối
thoại
ở
tiệc
cưới
Cana,
Đức
Giêsu
muốn
nói
với
Đức
Maria
rằng
đến
lúc
này
đây,
mối
quan
hệ
mẹ-con
xưa
nay
đang
được
biến
đổi
để
trở
nên
một
mối
quan
hệ
mới
mẻ
bởi
vì
lúc
này,
giờ
của
Người
đang
xuất
hiện
cùng
với
dấu
lạ
Người
sắp
sửa
làm
để
đáp
lại
lời
thỉnh
cầu
can
thiệp
kia
của
Đức
Maria.
Qua
lời
đáp
của
mình,
Đức
Giêsu
muốn
quả
quyết
về
thế
đứng
độc
lập
của
Người
đối
với
tất
cả
những
gì
chỉ
đơn
thuần
thuộc
về
ảnh
hưởng
của
con
người.
Đây
là
một
chủ
đề
có
tính
cách
xuyên
suốt
từ
đầu
đến
cuối
trong
cuốn
Tin
Mừng
Gioan.
Trong
việc
thi
hành
sứ
vụ
Chúa
Cha
đã
phó
giao,
Đức
Giêsu
phục
tùng
chỉ
duy
nhất
Chúa
Cha
mà
thôi;
ngay
cả
mẹ
Người
cũng
không
thể
có
được
sức
ảnh
hưởng
chi
phối
đối
với
những
gì
Người
thực
hiện.
Thế
đứng
độc
lập
ấy
được
nêu
bật
qua
việc
Đức
Giêsu
dùng
đại
từ
sở
hữu
nhân
xưng
“giờ
của
con,”
một
đại
từ
được
nguyên
bản
tiếng
Hy
lạp
đặt
ở
cuối
cụm
từ
để
nhấn
mạnh
ý
nghĩa.
Trong
cả
cuốn
Tin
Mừng
Gioan,
không
còn
thấy
có
chỗ
nào
khác
Đức
Giêsu
nhắc
đến
“giờ
của
con”
theo
cách
thức
nhấn
mạnh
như
thế.
Sự
việc
Đức
Maria
lại
lên
tiếng
tiếp
theo
sau
đó,
là
một
bằng
chứng
cho
thấy
rằng
ngài
đã
không
có
cảm
giác
mình
bị
từ
chối,
và
rằng
không
hề
có
một
chút
sứt
mẻ
nào
trong
mối
quan
hệ
giữa
ngài
với
Đức
Giêsu.
Những
gì
ngài
lên
tiếng
nói
ra
ngay
sau
đó
đã
cho
thấy
là
ngài
hiểu
được
những
gì
Đức
Giêsu
muốn
nói,
và
ngài
đã
đón
nhận
mối
quan
hệ
mới
mẻ
này.
Lúc
này,
ngài
không
còn
nói
với
Đức
Giêsu
nữa,
nhưng
quay
sang
bảo
với
các
gia
nhân
rằng
họ
cần
làm
theo
những
gì
Đức
Giêsu
bảo.
Ngài
không
nói
rõ
về
điều
Đức
Giêsu
sẽ
làm.
Điều
này
là
do
chính
Đức
Giêsu
quyết
định.
Đức
Giêsu
phải
là
người
nắm
thế
chủ
động
trong
sáng
kiến
hành
động
của
mình.
Thế
nhưng,
mối
quan
hệ
mới
mẻ
này
là
gì?
Vanhoye
(cùng
với
Brown)
đã
tìm
ra
được
một
mối
liên
hệ
đối
chiếu
với
truyền
thống
Nhất
lãm
–
đặc
biệt
là
với
đoạn
trình
thuật
trong
Mc
3:31-35
(đã
được
bàn
đến
trên
đây)
– có
tính
cách
soi
sáng
và
gợi
mở
rất
nhiều.
Các
mối
liên
hệ
gia
đình
của
Đức
Giêsu
được
đặt
thành
vấn
đề
và
được
thay
thế
bằng
các
mối
liên
hệ
theo
tư
cách
môn
đồ.
Về
phần
mình,
tác
giả
thiên
khảo
luận
này
có
chủ
trương
thiên
về
việc
nhìn
nhận
nét
tương
đồng
ấy
trong
mối
liên
hệ
đối
chiếu
với
đoạn
trình
thuật
của
Luca
về
cùng
một
sự
việc
được
thuật
lại
trong
các
Tin
Mừng
Nhất
lãm,
để
rồi
từ
đó
có
thể
thấy
ra
rằng
Gioan
đang
thực
hiện
điều
mà
Luca
đã
thực
hiện:
kể
Đức
Maria
vào
số
các
môn
đồ,
được
hiểu
như
là
những
người
lắng
nghe
lời
Thiên
Chúa
và
đem
ra
thực
hành.
Có
thể
đề
ra
ở
đây
ba
luận
cứ
để
chứng
minh
cho
luận
điểm
vừa
nêu.
Trước
hết,
Gioan
đặt
câu
chuyện
về
tiệc
cưới
Cana
ngay
sau
đoạn
trình
thuật
về
việc
kêu
gọi
các
môn
đồ
đầu
tiên.
Điều
này
không
có ý
nghĩa
bảo
rằng
Đức
Maria
đã
gia
nhập
vào
nhóm
các
môn
đồ
được
tuyển;
biến
cố
kêu
gọi
các
môn
đồ
và
biến
cố
tiệc
cưới
Cana
là
hai
đoạn
trình
thuật
riêng
biệt
nhau.
Tuy
nhiên,
không
phải
là
không
có
lý
việc
đọc
thấy
một
trình
tự
diễn
tiến
liên
tục
về
tư
tưởng
từ
đoạn
trình
thuật
trước
qua
đoạn
trình
thuật
sau.
Cách
cẩn
thận
sắp
xếp
bố
cục
thời
gian
của
Gioan
đã
minh
nhiên
cho
thấy
những
bước
chuyển
tiếp
trong
trình
tự
diễn
tiến
ấy:
ngày
thứ
nhất,
Đức
Giêsu
kêu
gọi
hai
môn
đồ
của
Gioan
Tẩy
Giả;
“buổi
sáng
hôm
sau,”
Người
gọi
ông
Simôn
Phêrô;
“ngày
hôm
sau,”
Người
gọi
ông
Philípphê
và
ông
Natanaên;
sau
đó
hai
ngày,
tức
vào
“ngày
thứ
ba,”
tại
Cana,
có
một
tiệc
cưới.
Như
thế,
nếu
có
thể
dựa
theo
bối
cảnh
tường
thuật
mà
nhận
là
có
một
mối
liên
kết
mạch
lạc
như
thế
về ý
tưởng,
thì
ắt
phải
thấy
rằng
không
có
gì
là
tưởng
tượng
hay
suy
diễn
quá
đà,
việc
đọc
ra
trong
câu
nói
của
Đức
Giêsu
một
lời
xác
định
rằng
Đức
Maria
phải
đi
vào
trong
một
mối
liên
hệ
theo
tư
cách
môn
đồ
(một
“ơn
gọi”?)
đặt
nền
tảng
trên
thái
độ
đón
nhận
lời
Cha
được
mạc
khải
trong
Đức
Giêsu
–
một
mối
liên
hệ
căn
cứ
vào
đó
các
môn
đồ
khác
cũng
đã
được
kêu
gọi,
và
đó
là
điều
kiện
đòi
hỏi
để
có
đủ
tư
cách
làm
thành
viên
trong
một
nhóm
được
tuyển
chọn
đặc
biệt
như
thế.
Kết
luận
này
được
củng
cố
qua
việc
Gioan
liên
kết
Đức
Maria
với
các
môn
đồ
khác
trong
những
lời
mở
đầu
trình
thuật
về
tiệc
cưới
Cana.
Tiếp
đến,
việc
Đức
Giêsu
gọi
Đức
Maria
là
“bà,”
chứ
không
phải
“mẹ”,
hàm
ý
một
bước
thay
đổi
trong
mối
quan
hệ
giữa
các
ngài
với
nhau,
và
làm
cho
liên
tưởng
duy
nhất
đến
một
sự
kiện
khác
chỉ
có
trong
cuốn
Tin
Mừng
thứ
tư,
trong
đó
Đức
Maria
cũng
được
gọi
theo
lối
xưng
hô
này:
lúc
Đức
Giêsu
nói
lời
trăng
trối
với
ngài
trên
đồi
Canvariô.
Ở
đó,
tư
cách
môn
đồ
của
ngài
được
nhìn
nhận
rõ
ràng
(theo
ý
nghĩa
nền
tảng)
và
ngài
được
đặt
trong
một
mối
liên
hệ
rất
đỗi
gần
gũi
với
người
môn
đồ
được
Chúa
Giêsu
thương
mến.
Thứ
ba,
thái
độ
phản
ứng
của
Đức
Maria
ngay
sau
khi
nghe
những
lời
Đức
Giêsu
nói
với
mình,
trong
tiệc
cưới
Cana,
cho
thấy
rằng
ngài
đã
hiểu
được
mối
quan
hệ
mới
mẻ
này
với
Con
mình.
“Người
bảo
gì,
các
anh
cứ
việc
làm
theo.”
Ngài
bảo
các
gia
nhân
phải
có
thái
độ
sẵn
sàng
để
làm
theo
những
gì
Đức
Giêsu
yêu
cầu,
một
thái
độ
mà
chính
ngài
cũng
cùng
chia
sẻ
với
họ,
bởi
vì
ngài
không
tự
mình
đưa
ra
bất
kỳ
một
chỉ
thị
nào,
nhưng
đặt
mình
vào
tư
thế
sẵn
sàng
để
chứng
kiến
việc
ý
muốn
của
Đức
Giêsu
được
thi
hành.
Ngài
không
loại
trừ
mình
ra
khỏi
việc
đáp
ứng
lời
yêu
cầu
sẵn
sàng
làm
theo
bất
kỳ
điều
gì
Đức
Giêsu
bảo;
ngài
ra
sức
đáp
ứng
điều
kiện
cần
thiết
mà
Tin
Mừng
đòi
hỏi,
để
có
thể
trở
thành
một
môn
đồ
đích
thực.
Trong
những
lời
Đức
Maria
nói
ra
với
các
gia
nhân,
có
thể
thoáng
thấy
một
dấu
hiệu
chỉ
về
địa
vị
làm
mẹ
của
ngài
đối
với
các
môn
đồ,
đây
là
điều
mà
Đức
Giêsu
sẽ
tuyên
bố
trên
Canvariô.
Với
việc
bảo
các
gia
nhân
hãy
sẵn
sàng
làm
theo
những
gì
Đức
Giêsu
yêu
cầu,
Đức
Maria
đang
khơi
dậy
nơi
họ
một
kiểu
thái
độ
cần
có
nơi
người
môn
đồ.
Như
thế,
có
thể
đưa
ra
một
bối
cảnh
thích
hợp
để
giải
thích
biến
cố
Cana
(ít
nhất
là
trong
những
gì
liên
quan
đến
Đức
Maria)
với
mục
đích
làm
sáng
tỏ
cương
vị
môn
đồ
của
ngài.
Cũng
với
cách
tiến
hành
tương
tự
như
Luca,
Gioan
nhìn
vào
vai
trò
Đức
Maria
không
đơn
thuần
chỉ
như
là
mẹ
Đức
Giêsu,
nhưng
còn
như
là
một
môn
đồ
nữa.
Việc
quả
quyết
cho
rằng
mối
quan
hệ
giữa
Đức
Maria
với
Con
mình
đang
bị
phá
vỡ,
hoặc
thậm
chí
bị
thay
thế,
thì
có
lẽ
hơi
quá;
đúng
hơn,
phải
nói
rằng
nó
đang
được
phát
triển
thêm
lên
một
bậc.
Mối
quan
hệ
ấy
được
biến
đổi
thành
một
dạng
liên
hệ
cao
hơn:
theo
tư
cách
môn
đồ.
Ngay
cả
trong
tư
cách
là
mẹ,
Đức
Maria
cũng
luôn
ra
sức
tìm
kiếm
những
gì
là
tốt
đẹp
nhất
cho
Con
mình;
ngài
đã
sẵn
sàng
phục
vụ
Con
mình
với
vai
trò
làm
mẹ
như
thế.
Và
giờ
đây,
bởi
chức
vị
làm
mẹ
của
ngài
được
nâng
lên
thành
cương
vị
làm
môn
đồ,
nên
ngài
vẫn
ra
sức
phục
vụ
Con
mình,
nhưng
việc
phục
vụ
này
lại
được
đặt
trong
trong
những
điều
kiện
mới
mẻ
khác
trước.
Lúc
này,
ngài
nhận
ra
được
thế
đứng
độc
lập
của
Con
mình
trong
mối
tương
quan
với
mình,
cũng
như
hiểu
được
rằng
mọi
sáng
kiến
hành
động
đều
tùy
thuộc
vào
Người.
Bởi
đó,
thái
độ
quan
tâm
chăm
sóc
Con
mình
trong
vai
trò
làm
mẹ
của
Đức
Maria
trở
nên
hoàn
toàn
tương
hợp
với
thái
độ
sẵn
sàng
lắng
nghe
và
tuân
giữ
lời
Người
trong
tư
cách
môn
đồ
của
ngài.
Sự
việc
thánh
Gioan
luôn
luôn
nhắc
đến
Đức
Maria
như
là
“thân
mẫu
Đức
Giêsu”
–
hai
lần
trong
biến
cố
Cana
và
ba
lần
trong
bối
cảnh
Canvariô,
qua
đó
Đức
Maria
rõ
ràng
được
gán
cho
một
vai
trò
mới
mẻ –
cho
thấy
rằng
Phúc
Âm
gia
này
đã
nhìn
nhận
cả
địa
vị
làm
mẹ
lẫn
cương
vị
môn
đồ
của
Đức
Maria,
và
rằng
cương
vị
môn
đồ
không
soán
đoạt
địa
vị
làm
mẹ
của
ngài.
Nếu
lối
giải
thích
như
thế
là
chuẩn
xác,
thì
có
thể
nói
rằng
thánh
Gioan
đang
đưa
ra
một
minh
họa
cụ
thể
về
điều
Đức
Giêsu
đã
dạy
các
môn
đồ
Người
trong
cuộc
tâm
sự
Tiệc
ly:
“Bất
cứ
điều
gì
anh
em
nhân
danh
Thầy
mà
xin,
thì
Thầy
sẽ
làm”
(Ga
14:13).
Rõ
ràng,
theo
thánh
Gioan,
lời
dạy
ấy
quan
trọng
đến
độ
ngài
đã
dành
ra
thêm
bốn
lần
nữa
–
cũng
trong
bối
cảnh
cuộc
tâm
sự
Tiệc
ly
–
để
nhắc
rõ
lại
(15:7.16;
16:24.
26;
cũng
xem
1Ga
3:22).
Tại
tiệc
cưới
Cana,
nếu
Đức
Maria
có
mặt
ở đó
không
chỉ
với
tư
cách
làm
mẹ
nhưng
còn
với
cương
vị
môn
đồ,
thì
có
thể
thấy
rõ
là
ngài
đang
thi
hành
lời
dạy
ấy
của
Đức
Giêsu
và
Đức
Giêsu
cũng
đang
thực
hiện
lời
Người
đã
hứa.
Người
đã
đưa
ra
lời
hứa
đó
với
các
môn
đồ
của
Người;
bởi
đó,
Đức
Maria
cũng
phải
là
một
môn
đồ.
Và
như
thế,
mối
tương
đồng
rõ
nét
với
truyền
thống
Nhất
lãm
cũng
lộ
hiện,
bởi
vì
có
thể
đọc
thấy
nhiều
lần
trong
các
Tin
mừng
Nhất
lãm
sự
việc
Đức
Giêsu
đưa
ra
những
mệnh
lệnh
về
việc
cầu
nguyện
và
về
việc
Người
hứa
sẽ
đáp
ứng
các
lời
cầu
nguyện
ấy.
Đến
đây,
bài
viết
sẽ
bàn
chi
tiết
hơn
về
lần
xuất
hiện
thứ
hai
của
Đức
Maria
trong
Tin
mừng
thánh
Gioan.
Phân
đoạn
trình
thuật
về
biến
cố
Canvariô
đóng
giữ
một
vai
trò
hết
sức
trọng
yếu
đối
với
thánh
Gioan:
đây
là
phân
đoạn
quả
phong
phú
về ý
nghĩa
tượng
trưng
và
quan
điểm
thần
học
sâu
sắc.
Nhiều
nhà
bình
giải
đã
nhận
ra
là
có
một
mối
liên
kết
hết
sức
chặt
chẽ
giữa
đoạn
trình
thuật
Cana
và
đoạn
trình
thuật
Canvariô;
nhưng
thay
vì
nhìn
khung
cảnh
Cana
trong
vị
trí
đối
lập
với
khung
cảnh
Canvariô,
thì
qua
những
dấu
chỉ
lộ
hiện
lên
trong
hai
đoạn
trình
thuật
này,
thiết
tưởng
phải
nhìn
chúng
trong
tương
quan
bổ
sung
lẫn
nhau:
biến
cố
Cana
tiên
báo
về
điều
sẽ
được
hoàn
tất
nơi
biến
cố
Canvariô.
Thánh
Gioan
đã
đặt
dưới
chân
Thánh
giá
hai
nhân
vật
quan
trọng;
giới
thiệu
hai
nhân
vật
này,
ngài
chỉ
mô
tả
chứ
không
nêu
tên:
thân
mẫu
Đức
Giêsu,
và
người
môn
đồ
Đức
Giêsu
thương
mến.
Tưởng
không
nên
bỏ
qua
ý
nghĩa
quan
trọng
của
điều
này.
Không
thấy
một
ai
trong
ba
Phúc
Âm
gia
còn
lại,
đề
cập
đến
sự
hiện
diện
của
một
trong
hai
nhân
vật
quan
trọng
kia;
và
điều
này
đã
làm
nảy
sinh
các
vấn
đề
liên
quan
đến
tính
cách
lịch
sử
của
tình
tiết
trình
thuật
ấy.
Tuy
nhiên,
với
tiêu
đích
bài
viết
nhằm
đến,
ý
nghĩa
thần
học
của
việc
thánh
Gioan
đặt
hai
nhân
vật
này
trên
đồi
Canvariô
lại
giữ
một
vai
trò
quan
trọng
hơn
nhiều;
bởi
ở
đây,
“giờ”
của
Đức
Giêsu
–
“giờ”
mà
công
trình
của
Người
đang
đi
tới
chỗ
thành
tựu,
và
nhất
định
Người
phải
được
tôn
vinh
– đã
đạt
đến
đỉnh
điểm.
Việc
thánh
Gioan
trình
thuật
sự
hiện
diện
của
Đức
Maria
cùng
với
người
môn
đồ
Đức
Giêsu
yêu
mến,
trong
khung
cảnh
ấy,
có
thể
coi
là
một
lời
tha
thiết
mời
gọi
độc
giả,
theo
khả
năng
hiểu
biết
tốt
nhất
có
thể
của
mình,
để
tâm
suy
ngẫm
sâu
xa
về ý
nghĩa
nó
muốn
biểu
đạt.
Trong
Tin
mừng
của
Gioan,
“người
môn
đồ
Đức
Giêsu
yêu
mến”
mang
một
ý
nghĩa
biểu
tượng,
vượt
xa
hơn
bất
kỳ
một
ý
nghĩa
lịch
sử
nào
có
thể
có
xoay
quanh
nhân
vật
này.
Nhân
vật
này
là
ai
xét
về
mặt
lịch
sử,
liệu
nhân
vật
này
có
phải
là
người
môn
đồ
có
tên
gọi
là
Gioan,
một
người
thuộc
nhóm
Mười
hai,
hay
không:
đó
là
điều
vẫn
còn
đang
nằm
trong
vòng
tranh
luận
giữa
các
học
giả.
Điều
chính
yếu
bài
viết
muốn
nêu
bật
ở
đây
chính
là
việc
trong
cuốn
tin
mừng
thứ
tư,
chân
dung
nhân
vật
này
được
phác
họa
như
là
người
môn
đồ
lý
tưởng.
Ngài
là
người
bạn
chí
thiết
của
Đức
Giêsu
và
được
Đức
Giêsu
dành
cho
một
tình
cảm
mến
đặc
biệt.
Đức
Giêsu
yêu
mến
ngài
và,
như
có
thể
đọc
thấy
ở
một
số
văn
đoạn
khác,
Đức
Giêsu
dành
tình
mến
yêu
cho
những
ai
vâng
giữ
các
điều
răn
của
Người
(x.
Ga
14:21.23),
tức
là
những
ai
lắng
nghe
và
tuân
giữ
lời
Thiên
Chúa.
Như
thế,
nhân
vật
này
đã
được
phác
họa
nổi
bật
như
là
gương
mẫu
để
mọi
môn
đồ
khác
có
thể
nhìn
vào
đó
mà
noi
theo.
Với
việc
đặt
ngài
vào
khung
cảnh
cuộc
khải
hoàn
của
Đức
Giêsu
trên
Thánh
giá
và,
lập
tức
sau
đó,
coi
ngài
như
là
một
trong
những
chứng
nhân
đầu
tiên
của
biến
cố
Phục
sinh
(x.
Ga
20:1-10),
Phúc
Âm
gia
đã
miêu
họa
ngài
như
là
người
tiếp
nhận
những
gì
đã
được
dự
liệu
cho
công
cuộc
nối
dài
sứ
mạng
của
Đức
Giêsu,
bởi
vì
công
tác
Người
thực
hiện
trong
thế
gian
nay
đã
hoàn
tất.
Sứ
mạng
của
Đức
Giêsu
được
trao
phó
cho
các
môn
đồ
Người
qua
chính
bản
thân
người
môn
đồ
lý
tưởng
ấy.
Bởi
đó,
Đức
Giêsu
vẫn
đang
tiếp
tục
hiện
diện
trong
lòng
Giáo
hội
Người,
nơi
những
môn
đồ
của
Người.
Trong
khung
cảnh
quanh
chân
Thánh
giá
Đức
Giêsu,
các
chủ
đề
về
mẫu
tính
và
môn
đồ
tính
đan
xen
và
chặt
chẽ
quấn
quyện
vào
nhau.
Điều
này
được
làm
cho
nổi
bật
qua
việc
Phúc
Âm
gia
sử
dụng
các
danh
hiệu
có
tính
cách
gợi
tả
thay
vì
gọi
đích
danh
từng
nhân
vật:
thân
mẫu
Đức
Giêsu
và
người
môn
đồ
Đức
Giêsu
yêu
mến.
Thánh
Gioan
thuật
lại
như
sau:
“Đứng
gần
thập
giá
Đức
Giêsu,
có
thân
mẫu
Người,
chị
của
bà
thân
mẫu,
bà
Maria
vợ
ông
Cơlôpát,
cùng
với
bà
Maria
Mácđala.
Khi
thấy
thân
mẫu
và
môn
đệ
mình
yêu
mến
đứng
bên
cạnh,
Đức
Giêsu
nói
với
thân
mẫu
rằng:
‘Thưa
Bà,
đây
là
con
của
Bà.’
Rồi
Người
nói
với
môn
đệ:
‘Đây
là
mẹ
của
anh.’
Kể
từ
giờ
đó,
người
môn
đệ
rước
bà
về
nhà
mình”
(Ga
19:25-27).
Đức
Giêsu
tuyên
bố
rằng
Đức
Maria
và
người
môn
đồ
ấy
giờ
đây
đang
tiến
vào
một
mối
liên
hệ
gắn
bó
với
nhau
theo
tư
cách
mẹ
và
con.
Rõ
ràng,
đây
không
thể
là
mối
quan
hệ
có
tính
cách
máu
mủ,
ruột
thịt.
Tuy
thế,
những
lời
lẽ
biểu
đạt
kia
thực
sự
nêu
bật
cho
thấy
một
tình
trạng
kết
hợp
với
nhau
về
“bản
chất”
của
cả
đôi
bên.
Một
người
mẹ
tất
phải
mang
cùng
một
bản
chất
hệt
như
người
con
của
bà.
Người
“con”
của
Đức
Maria
ở
đây
là
một
môn
đồ;
do
đó,
Đức
Maria
cũng
phải
là
một
môn
đồ.
Người
môn
đồ
Đức
Giêsu
yêu
mến
mang
trong
mình
một
nét
tính
cách
cố
định
như
thấy
xuyên
suốt
từ
đầu
chí
cuối
cuốn
Tin
mừng:
ngài
là
người
môn
đồ
lý
tưởng,
là
người
bạn
tâm
giao
rất
mực
đáng
mến
của
Đức
Giêsu.
Vai
trò
của
ngài
không
phát
triển
thêm
lên.
Trái
lại,
Đức
Maria
đã
thực
sự
nhận
lấy
một
vai
trò
mới
mẻ.
Ngài
là
mẹ
Đức
Giêsu
và
đồng
thời
cũng
là
một
môn
đồ.
Ở
Cana,
vai
trò
này
chỉ
mới
thấp
thoáng
lộ
hiện;
và
chỉ
khi
đến
lúc
ngài
xuất
hiện
một
lần
nữa
vào
thời
khắc
đỉnh
điểm
trong
sứ
mạng
của
Đức
Giêsu,
thì
vai
trò
ấy
mới
được
chính
thức
chuẩn
nhận.
Tuy
vẫn
là
mẹ
Đức
Giêsu,
nhưng
rõ
ràng
ngài
cũng
được
nhìn
nhận
như
một
trong
số
các
môn
đồ,
bởi
ngài
là
mẹ
của
người
môn
đồ
lý
tưởng.
Chức
vị
làm
mẹ
về
mặt
huyết
thống
của
ngài
giờ
đây
đã
được
nâng
lên
một
bậc,
và
bản
chất
đích
thực
của
chức
vị
ấy
được
tỏ
lộ
ra
qua
tư
cách
môn
đồ.
Người
môn
đồ
Đức
Giêsu
yêu
mến
xuất
hiện
như
là
người
môn
đồ
lý
tưởng.
Với
tư
cách
là
mẹ
của
người
môn
đồ
lý
tưởng
này,
Đức
Maria
tất
phải
trở
nên
giống
hệt
như
người
môn
đồ
ấy
về
“bản
chất”
thiêng
liêng,
bởi
vì
ngài
là
con
của
Đức
Maria.
Và
như
thế,
giống
hệt
với
ngài,
Đức
Maria
cũng
phải
là
một
môn
đồ
mẫu
mực.
Bởi
đó,
điều
mà
thánh
Luca
quả
quyết
trong
trình
thuật
về
biến
cố
Truyền
tin
ở
đầu
cuốn
Tin
Mừng
của
mình,
thì
thánh
Gioan
lại
xác
nhận
trong
trình
thuật
về
biến
cố
Khổ
hình
Thập
giá
ở
cuối
cuốn
Tin
Mừng
của
mình.
Lối
giải
thích
như
trên
được
củng
cố
qua
một
lời
xác
nhận
quan
trọng
đọc
thấy
trong
các
câu
Kinh
Thánh
xuất
hiện
tiếp
ngay
sau
đó,
mô
tả
về
cái
chết
của
Đức
Giêsu.
Câu
30
ghi
lại
như
thế
này:
“Nhắp
xong
[miếng
bọt
biển
có
thấm
đầy
giấm],
Đức
Giêsu
nói:
‘Thế
là
đã
hoàn
tất!’
Rồi
Người
gục
đầu
xuống
và
trao
thần
khí.”
Cụm
từ
“trao
thần
khí”
ở
đây
được
dịch
ra
từ
một
cụm
từ
khá
đặc
sắc
trong
tiếng
Hy
lạp
(paredöken
to
pneuma),
và
có
vẻ
như
Phúc
Âm
gia
đã
có
chủ
ý
vượt
ra
khỏi
cách
thức
biểu
đạt
thông
thường
diễn
tả
việc
“trút
hơi
thở
cuối
cùng”
như
đọc
thấy
trong
truyền
thống
Nhất
lãm
về
điều
này
(x.
Mc
15:37;
Mt
27:50;
Lc
23:46).
David
Stanley
đã
nhìn
ra
trong
cách
chọn
cụm
từ
biểu
đạt
ấy
một
ngụ
ý
cho
thấy
rằng
trong
cách
nhìn
của
thánh
Gioan,
“Đức
Giêsu
đưa
sứ
mạng
của
Người
đến
chỗ
hoàn
tất,
đến
kết
cục
thành
tựu
qua
việc
thổi
hơi
ban
Chúa
Thánh
Thần
xuống
trên
Đức
Bà
và
người
môn
đồ
Đức
Giêsu
yêu
mến
là
hai
nhân
vật
đại
diện
cho
toàn
thể
tín
hữu
kitô.”
Trước
đó,
trong
cuốn
Tin
Mừng
của
mình,
thánh
Gioan
đã
ghi
rằng
“Thật
thế,
bấy
giờ
họ
chưa
nhận
được
Thần
Khí,
vì
Đức
Giêsu
chưa
được
tôn
vinh”
(7:39).
Tuy
nhiên,
trên
Canvariô,
khoảnh
khắc
Đức
Giêsu
được
tôn
vinh
đã
xuất
hiện
và,
như
thế,
đó
là
thời
điểm
Người
thổi
ban
Thần
Khí.
Ý
kiến
nhận
định
này
được
củng
cố
thêm
nữa
qua
những
câu
tiếp
theo,
trong
đó
thánh
Gioan
mô
tả
việc
cạnh
sườn
Đức
Giêsu
bị
đâm
thâu
và
máu
cùng
nước
chảy
xuống.
Chính
thánh
Gioan
đã
coi
Đức
Kitô
như
là
mạch
nước
hằng
sống
và
liên
kết
thứ
nước
hằng
sống
đó
với
Chúa
Thánh
Thần:
“Hôm
ấy
là
ngày
bế
mạc
tuần
lễ
Lều,
và
là
ngày
long
trọng
nhất.
Đức
Giêsu
đứng
trong
Đền
Thờ
và
lớn
tiếng
nói
rằng:
‘Ai
khát,
hãy
đến
với
tôi!
Ai
tin
vào
tôi,
hãy
đến
mà
uống!’
Như
Kinh
Thánh
đã
nói:
‘Từ
lòng
Người,
sẽ
tuôn
chảy
những
dòng
nước
hằng
sống.’
Đức
Giêsu
muốn
nói
về
Thần
Khí
mà
những
kẻ
tin
vào
Người
sẽ
lãnh
nhận.
Thật
thế,
bấy
giờ
họ
chưa
nhận
được
Thần
Khí,
vì
Đức
Giêsu
chưa
được
tôn
vinh.”
Trên
Cavariô,
Đức
Maria
và
người
môn
đồ
Đức
Giêsu
yêu
mến
là
những
người
chứng
kiến
việc
thổi
ban
Thần
Khí
và
việc
dòng
nước
hằng
sống
tuôn
trào.
Và
như
thế,
hai
nhân
vật
này
được
miêu
trình
như
những
con
người
đầu
tiên
lãnh
nhận
Thần
Khí
ban
xuống
trên
Giáo
hội
vừa
được
thiết
lập.
Ở
đây,
thánh
Gioan
đang
nêu
lên
cùng
một
quan
điểm
như
thánh
Luca
trong
một
bối
cảnh
khác.
Trong
Cv
1:14,
thánh
Luca
dốc
lực
trình
bày
cho
thấy
rằng
Đức
Maria
là
một
thành
viên
thuộc
cộng
đoàn
các
tín
hữu
hậu
phục
sinh,
một
cộng
đoàn
đang
tập
hợp
bên
nhau
trong
bầu
khí
liên
lỉ
cầu
nguyện.
Và
cũng
chính
cộng
đoàn
ấy
(kể
cả
Đức
Maria)
đã
nhận
được
Chúa
Thánh
Thần
vào
ngày
Ngũ
Tuần,
ngày
khai
sinh
Giáo
hội
non
trẻ
(x.
Cv
2:1-41).
Trên
Canvariô,
Đức
Maria
và
người
môn
đồ
lý
tưởng
–
đại
diện
cho
toàn
thể
tín
hữu
kitô
đích
thực
–
nhận
lãnh
Thần
Khí
từ
Đức
Kitô
đang
hấp
hối;
vào
ngày
Ngũ
Tuần,
Đức
Maria
và
cộng
đoàn
các
môn
đồ
đón
nhận
Thần
Khí
xuất
hiện
dưới
hình
lưỡi
lửa.
Về ý
nghĩa
thần
học,
có
thể
đưa
ra
cùng
một
nhận
định
tương
tự
cho
cả
hai
trường
hợp:
Đức
Maria
là
một
thành
viên
thuộc
số
các
môn
đồ
được
đón
nhận
Thần
Khí
đầy
tràn.
ĐỨC
MARIA
VỚI
GIÁO
HỘI
Nếu
đã
phải
dựa
vào
lòng
tin
và
cương
vị
môn
đồ
của
Đức
Maria
để
giải
thích
chức
vị
làm
mẹ
chính
Đức
Giêsu
của
ngài,
thì
cũng
thế,
phải
dựa
vào
cương
vị
môn
đồ
của
ngài
để
thì
mới
có
thể
làm
sáng
tỏ
về
chức
vị
làm
mẹ
của
ngài
đối
với
Giáo
hội.
Những
ai
được
ngài
sinh
ra
trong
Giáo
hội
cũng
đều
là
môn
đồ.
Và
như
thế,
bản
thân
ngài
tất
phải
là
môn
đồ.
Ngài
hiện
diện
trong
lòng
Giáo
hội
như
một
môn
đồ
giữa
các
môn
đồ.
Dù
có
thể
mang
ý
nghĩa
như
thế
nào
đi
nữa,
thì
tước
hiệu
“Mẹ
Giáo
hội”
của
Đức
Maria
cũng
không
thể
được
giải
thích
theo
ý
nghĩa
cho
rằng
ngài
hiện
diện
bên
ngoài
Giáo
hội,
trong
một
thế
đứng
riêng
biệt
với
Giáo
hội,
hệt
như
một
người
mẹ
có
nét
khác
biệt
với
con
cái
mình
xét
vì
người
mẹ
ấy
là
nguồn
gốc
xuất
phát
của
chúng.
Đúng
hơn,
ngài
phải
được
nhìn
trong
cùng
một
cách
thức
tương
tự
như
việc
một
người
mẹ
được
nhìn
nhận
như
là
một
thành
viên
trong
gia
đình
mình
vậy.
Tuy
nhiên,
cách
hiểu
về
Đức
Maria
với
vai
trò
cá
nhân
là
một
người
mẹ
thiêng
liêng
của
toàn
thể
tín
hữu
kitô,
là
một
bước
phát
triển
tương
đối
muộn
về
sau
trong
thần
học.
Tín
hữu
ngày
nay
sẽ
cảm
thấy
bằng
lòng
với
cách
nhìn
về
mối
quan
hệ
của
Đức
Maria
với
Giáo
hội
dựa
theo
cách
hiểu
đã
có
từ
những
thời
xa
xưa
ban
đầu.
Trong
trình
thuật
của
Gioan
về
biến
cố
Khổ
hình
Thập
giá,
như
đang
được
thiên
khảo
luận
đào
sâu
xem
xét,
dù
có
xét
đến
cả
vấn
đề
lịch
sử
đi
nữa,
thì
cũng
không
có
gì
cản
trở
việc
quả
quyết
cho
rằng
hình
ảnh
Đức
Maria
mang
một
tính
cách
biểu
tượng.
Hình
ảnh
biểu
tượng
ở
đây
không
rõ
ràng,
và
chủ
ý
riêng
của
thánh
Gioan
có
thể
trở
nên
hết
sức
phức
tạp
nếu
không
có
bất
kỳ
một
sự
phân
biệt
rõ
ràng
nào
giữa
các
mạch
tư
tưởng
khác
nhau.
Tuy
nhiên,
có
vẻ
như
có
đủ
thận
trọng
để
nói
rằng
tác
giả
Tin
Mừng
thứ
tư
đã
nhìn
Đức
Maria
như
là
một
hình
ảnh
tượng
trưng
cho
Giáo
hội
được
lập
thành
trên
nền
tảng
các
môn
đồ
của
Đức
Giêsu.
Hình
ảnh
ấy
làm
liên
tưởng
đến
các
chủ
đề
xuất
hiện
trong
Cựu
Ước
và
trong
sách
Khải
huyền.
Hình
ảnh
Đức
Maria
gánh
chịu
đau
đớn
khi
chứng
kiến
cuộc
khổ
nạn
của
Con
mình,
gợi
lên
hình
ảnh
dân
Ítraen
trong
Cựu
Ước
như
một
người
đàn
bà
đang
lâm
cảnh
đau
thương.
Nỗi
đau
ấy
có
thể
sánh
ví
với
cảnh
người
phụ
nữ
quằn
quại
đau
đớn
khi
sinh
con
(x.
Is
26:17-18;
66:7;
Mk
4:9-10),
và
đó
là
hình
ảnh
chính
thánh
Gioan
đã
phác
họa
lại
trong
cuốn
Tin
Mừng
của
mình:
“Khi
sinh
con,
người
đàn
bà
lo
buồn
vì
đến
giờ
của
mình;
nhưng
sinh
con
rồi,
thì
không
còn
nhớ
đến
cơn
gian
nan
nữa,
bởi
được
chan
chứa
niềm
vui
vì
một
người
con
đã
sinh
ra
trong
thế
gian”
(Ga
16:21).
Hình
ảnh
ấy
cũng
có
thể
được
bắt
gặp
trong
sách
Khải
huyền:
“Rồi
có
điềm
lớn
xuất
hiện
trên
trời:
một
người
nữ,
mình
khoác
mặt
trời,
chân
đạp
mặt
trăng,
và
đầu
đội
triều
thiên
mười
hai
ngôi
sao.
Bà
có
thai,
đang
kêu
la
đau
đớn
và
quằn
quại
vì
sắp
sinh
con”
(Kh
12:1-2).
Ngày
nay,
nhìn
chung,
sách
Khải
huyền
được
nhìn
nhận
như
là
cuốn
sách
chứng
thực
về
một
số
khuôn
mạch
tư
tưởng
và
chủ
đề
thuộc
trường
phái
Gioan,
và
chính
từ
đó
cuốn
Tin
Mừng
thứ
tư
chào
đời;
như
thế,
có
thể
có
đủ
căn
cứ
thích
đáng
để
liên
kết
người
phụ
nữ
đang
quằn
quại
trong
kỳ
thai
nghén,
như
thấy
trong
sách
Khải
huyền,
với
hình
ảnh
người
mẹ
Đức
Giêsu
đang
đau
đớn
khôn
xiết
trên
đồi
Canvariô
vậy.
Người
nữ
trong
sách
Khải
huyền
là
một
hình
ảnh
tượng
trưng
cho
dân
Thiên
Chúa.
Thị
kiến
như
được
mô
tả
trong
chương
12
nêu
rõ
cho
thấy
tình
trạng
thù
địch
giữa
người
phụ
nữ
và
“con
mãng
xà”:
đây
là
điều
đã
được
tiên
báo
trong
St
3:15,
về
mối
thù
giữa
“người
nữ”
và
con
rắn,
giữa
miêu
duệ
người
nữ
với
dòng
dõi
con
rắn.
“Con
mãng
xà”
đã
bị
điểm
mặt
là
“con
rắn
xưa,
là
ma
quỷ
hay
Xatan,
tên
chuyên
mê
hoặc
toàn
thể
thiên
hạ”
(Kh
12:9);
và
như
thế,
điều
này
mang
lại
một
căn
cứ
hoàn
toàn
vững
chắc
giúp
củng
cố
cho
việc
liên
hệ
ám
chỉ
đến
sách
Sáng
thế.
Hình
ảnh
người
nữ
trong
chương
12,
sách
Khải
huyền,
cũng
gợi
lên
hình
ảnh
chỉ
về
dân
Ítraen
như
người
nữ
đang
chịu
đau
đớn
trong
kỳ
sinh
nở.
Hình
ảnh
ấy
ám
chỉ
rằng
chính
Đấng
Thiên
sai
sẽ
chào
đời
từ
dân
được
chọn,
tức
từ
dân
Ítraen
(x.
Is
66:7).
Vả
lại,
dân
Ítraen
mới
–
tức
dân
tộc
thuộc
thời
đại
thiên
sai
– sẽ
tuyên
nhận
là
mẹ
mình,
những
kẻ
tín
trung
trong
dân
Ítraen
(x.
Is
49:18-23;
54:1;
66:7-14).
Mặc
dầu,
thời
ngôn
sứ
Isaia,
dân
Ítraen
đã
thai
nghén
trong
lòng
mình
người
con
thiên
sai
ấy
rồi,
và
đang
phải
chịu
những
cơn
đau
chuyển
dạ,
nhưng
cuộc
hạ
sinh
thực
sự
sẽ
diễn
ra
trong
tương
lai
(x.
Is
26:17-18).
Ngôn
sứ
Mikha
gọi
người
nữ
đang
chuyển
dạ
sinh
nở
ấy
là
“thiếu
nữ
Xion”
(Mk
4:10),
và
cách
gọi
này
đương
nhiên
làm
liên
tưởng
đến
những
cách
diễn
tả
về
tước
hiệu
ấy,
tước
hiệu
mà
các
ngôn
sứ
khác
đã
dùng
khi
kêu
gọi
dân
Ítraen
hãy
vui
mừng
hoan
hỷ
về
biến
cố
xuất
hiện
sắp
đến
của
Đấng
Thiên
sai
và
thời
đại
thiên
sai
(x.
Xp
3:14-
17;
Dcr
9:9).
Bởi
đó,
được
tô
điểm
với
rất
nhiều
hình
ảnh
của
Cựu
Ước
như
thế,
người
nữ
trong
sách
Khải
huyền
trở
thành
một
biểu
tượng
của
dân
Thiên
Chúa,
dân
tộc
cưu
mang
Đấng
Thiên
sai.
Tuy
vậy,
người
nữ
ấy
cũng
là
mẹ
của
nhiều
người
con
khác
nữa,
những
người
bị
ác
thần
nổi
loạn
chống
lại,
và
là
những
người
được
kể
vào
số
“tất
cả
những
ai
tuân
theo
các
điều
răn
của
Thiên
Chúa
và
giữ
lời
chứng
của
Đức
Giêsu”
(Kh
12:17);
hay
nói
cách
khác,
đó
là
những
môn
đồ
của
Đức
Giêsu.
Do
đó,
người
nữ
này
là
cũng
hình
ảnh
tượng
trưng
cho
dân
mới
của
Thiên
Chúa,
tức
cộng
đoàn
các
môn
đồ,
những
người
thừa
kế
phần
thưởng
được
ban
cho
trong
thời
đại
thiên
sai.
Mặc
dù
hình
ảnh
tượng
trưng
nguyên
thủy
của
nhân
vật
huyền
bí
này
rõ
ràng
ám
chỉ
đến
dân
được
chọn
của
Thiên
Chúa,
thuộc
về
chế
độ
tôn
giáo
cả
cũ
lẫn
mới,
nhưng
mọi
điều
ám
chỉ
về
Đức
Maria
không
phải
do
đó
mà
bị
loại
trừ
ra.
“Thường
thì
trong
Kinh
Thánh,
các
nhân
vật
có
tính
cách
tập
thể
đều
[được
phác
họa]
dựa
trên
một
nhân
vật
lịch
sử
có
thật.
Bởi
đó,
sự
việc
người
nữ
kia
tượng
trưng
cho
dân
Thiên
Chúa
sẽ
hoàn
toàn
không
loại
trừ
việc
ám
chỉ
đến
một
người
nữ
đặc
biệt
như
là
căn
cứ
quy
chiếu
cho
hình
ảnh
tượng
trưng
kia.”
Bởi
người
nữ
ấy
được
giới
thiệu
như
là
mẹ
Đấng
Thiên
sai,
nên
không
phải
là
không
có
lý
việc
nhìn
hình
ảnh
Đức
Maria
dưới
dạng
biểu
tượng.
Trên
Canvariô,
Đức
Maria
được
trao
làm
con
mình,
người
môn
đồ
lý
tưởng;
nói
cách
khác,
ngài
được
trao
cho
vai
trò
làm
mẹ
trong
gia
đình
các
môn
đồ
mới
mẻ
của
Đức
Giêsu.
Trong
kế
hoạch
hậu
phục
sinh,
Giáo
hội
được
giao
phó
sứ
mạng
tìm
kiếm
và
thu
phục
những
môn
đồ
mới
cho
Chúa
(x.
Mt
28:19-10
và
các
đoạn
song
song).
Được
biểu
tượng
hóa
qua
hình
ảnh
huyền
ảo
của
người
nữ
trong
sách
Khải
huyền,
nhưng
sứ
mạng
ấy
cũng
được
biểu
tượng
hóa
cách
cụ
thể
qua
hình
ảnh
Đức
Maria
trên
đồi
Canvariô,
đấng
được
xác
nhận
về
vai
trò
làm
mẹ
của
mình.
Nhưng
điều
đó
không
muốn
nói
rằng
Đức
Maria
là
mẹ
của
Giáo
hội.
Đúng
hơn,
ngài
hiện
diện
ở đó
như
là
một
hình
ảnh
tượng
trưng
cho
chính
Giáo
hội,
đấng
mà
rốt
cuộc,
về
sau,
được
biết
đến
như
là
“Mẹ
Giáo
hội.”
Và
Đức
Maria
đặc
biệt
thích
hợp
với
vai
trò
ấy.
Giáo
hội
là
một
người
mẹ
xét
theo
ý
nghĩa
là:
Giáo
hội
sinh
ra
những
môn
đồ
mới
cho
Đức
Kitô
trong
đức
tin.
Tiêu
đích
mà
sứ
mạng
Giáo
hội
nhắm
đến
là
“mặc
lấy
xác
phàm
cho
Lời,”
tức
là
nỗ
lực
làm
cho
Đức
Kitô
nhập
thể
vào
giữa
thế
giới
con
người.
Giáo
hội
có
bổn
phận
làm
cho
Đức
Kitô
hiện
diện
sống
động
ở
giữa
thế
giới
qua
việc
rao
truyền
đức
tin
của
mình
cho
con
người.
Và
chính
vì
cùng
chia
sẻ
đức
tin
với
Giáo
hội,
nên
họ
đều
là
những
môn
đồ
của
Đức
Kitô.
Giáo
hội
công
bố
Lời
Thiên
Chúa
để
các
môn
đồ
lắng
nghe,
và
cung
cấp
những
phương
tiện
cần
thiết
để
họ
có
thể
tuân
giữ
lời
ấy.
Đức
tin
của
Giáo
hội
là
yếu
tố
giúp
Giáo
hội
trở
nên
hiền
thê
thanh
khiết
của
Đức
Kitô
(x.
2Cr
11:2),
và
chính
nhờ
thái
độ
trung
thành
gắn
bó
triệt
để
trước
sau
như
một
của
mình
đối
với
Đức
Kitô
trong
đức
tin,
mà
Giáo
hội
mới
có
thể
vững
vàng
làm
chứng
cho
ơn
cứu
chuộc
đã
được
ban
ra
cho
hết
thảy
mọi
người
qua
cuộc
hiến
tế
trên
Canvariô.
Như
đã
bàn
đến
ở
trên,
lòng
tin
của
Đức
Maria
chính
là
yếu
tố
cốt
lõi
giúp
cho
có
được
một
cách
hiểu
thích
đáng
về
vai
trò
làm
mẹ
của
ngài.
Qua
lòng
tin
của
mình,
Đức
Maria
đã
thụ
thai
Đức
Giêsu,
Thần-nhân,
và
với
lòng
tin
của
mình,
ngài
đã
hết
lòng
hỗ
trợ
Đức
Giêsu
trong
trọn
cả
bước
đường
sứ
vụ
của
Người
trải
dài
từ
Cana
cho
đến
Canvariô.
Lòng
tin
của
ngài
đã
thúc
đẩy
ngài
lắng
nghe
và
tuân
giữ
lời
Thiên
Chúa,
trân
trọng
cất
giữ
và
suy
đi
ngẫm
lại
lời
ấy
trong
lòng.
Ngài
là
người
môn
đồ
hoàn
hảo.
Tác
giả
Tin
Mừng
thứ
tư
ghi
ra
lời
chứng
của
người
môn
đồ
Đức
Giêsu
yêu
mến,
là
người
đã
chứng
kiến
tận
mắt
và
kể
lại
những
sự
việc
diễn
ra
trên
Canvariô:
“Người
xem
thấy
việc
này
đã
làm
chứng,
và
lời
chứng
của
người
ấy
xác
thực;
và
người
ấy
biết
mình
nói
sự
thật
để
cho
cả
anh
em
nữa
cũng
tin”
(Ga
19:35).
Mà,
Đức
Maria
cũng
đã
đứng
trong
một
vị
trí
khá
thích
hợp
để
có
thể
chứng
kiến
chính
các
sự
việc
diễn
ra
ấy.
Bởi
đó,
ngài
cũng
là
một
nhân
chứng
về
quyền
năng
cứu
độ
của
Thiên
Chúa.
Ngài
ở
trong
một
vị
thế
được
đặc
biệt
ưu
tiên
để
chuyển
trao
lại
đức
tin
mà
ngài
đã
lãnh
nhận.
Mối
liên
hệ
mật
thiết
giữa
Đức
Maria
với
người
môn
đồ
Đức
Giêsu
yêu
mến
trên
Canvariô
–
một
mối
tương
quan
giữa
mẹ
với
con,
giữa
môn
đồ
hoàn
hảo
và
môn
đồ
lý
tưởng
–
được
xác
nhận
dựa
theo
một
cấp
độ
khác:
cả
việc
các
ngài
cùng
hiện
diện
trên
Canvariô,
được
lãnh
nhận
Thần
Khí,
được
đặt
làm
nhân
chứng
cho
“giờ”
của
Đức
Giêsu,
lẫn
việc
các
ngài
được
ủy
thác
sứ
mạng
làm
cho
những
người
khác
“cũng
tin
theo
như
thế.”
Do
vậy,
trong
cương
vị
môn
đồ
đầy
lòng
tin
của
mình,
Đức
Maria
trỗi
vượt
hơn
cả
để
trở
nên
hình
ảnh
của
chính
Giáo
hội,
chịu
trách
nhiệm
về
sứ
mạng
loan
báo
Tin
Mừng
đến
mọi
loài
thụ
tạo
(x.
Mc
16:16)
và
làm
cho
muôn
dân
trở
thành
môn
đệ
(x.
Mt
28:19).
MARIA,
ĐỨC
NỮ
ĐỒNG
TRINH
Truyền
thống
Giáo
hội
hằng
không
ngừng
tuyên
tôn
Đức
Maria
không
những
như
là
Mẹ
Thiên
Chúa,
mà
còn
như
là
Đức
Nữ
Đồng
Trinh.
Vẫn
dựa
theo
mô
biểu
đã
đề
ra
lúc
đầu,
tức
dựa
vào
cương
vị
môn
đồ
của
Đức
Maria,
bài
viết
sẽ
tiếp
tục
khảo
xét
về
vấn
đề
đồng
trinh
tính
của
ngài.
Ở
phần
nhận
định
kết
luận
cuộc
nghiên
cứu
đại
kết
về
hình
ảnh
Đức
Maria
trong
Tân
Ước,
các
soạn
giả
ghi
ra
như
sau:
“...trong
Tân
Ước,
và
trong
trào
lưu
văn
chương
thuộc
thế
kỷ
thứ
hai,
chân
dung
mẹ
Đức
Giêsu
đã
được
phác
họa
theo
những
đường
nét
không
đồng
nhất
với
nhau
và,
trong
một
số
trường
hợp,
mang
tích
cách
thiếu
cân
đối
hài
hòa...
Tuy
vậy,
vẫn
có
thể
lần
theo
một
số
đường
hướng
phát
triển
đang
dần
dần
trở
nên
tích
cực
hơn
trong
việc
phác
họa
chân
dung
Đức
Maria
như
là
một
môn
đồ
vượt
bậc
và
như
là
người
nữ
đồng
trinh.”
Đối
với
một
cuộc
nghiên
cứu
có
dùng
đến
phương
pháp
sử-phê
bình
hết
sức
nghiêm
ngặt,
thiên
chiều
về
việc
đặt
ra
hơn
là
giải
quyết
các
điểm
nghi
vấn,
thì
nhận
định
kết
luận
như
trên
là
rất
đáng
lưu
ý và
có
sức
khích
lệ
để
bài
viết
này
dựa
vào
đó
mà
nhìn
ra
được
một
mối
liên
hệ
giữa
môn
đồ
tính
với
đồng
trinh
tính
của
Đức
Maria.
Vấn
đề
thụ
thai
vô
nhiễm
Đức
Giêsu
là
một
chủ
đề
thu
hút
rất
nhiều
quan
tâm
trong
thời
gian
gần
đây.
Cuộc
thảo
luận
ấy
đã
và
đang
dồn
trọng
tâm
vào
nỗ
lực
xác
minh
về
tính
cách
lịch
sử
của
giáo
lý
trong
Kinh
Thánh,
và
về
phần
mình,
dù
vẫn
hết
sức
thận
trọng
để
khỏi
rơi
vào
lập
trường
nhấn
mạnh
quá
mức
nét
đặc
trưng
có
tính
cách
biểu
tượng
và
thần
học
của
các
sách
Tin
Mừng
để
rồi
làm
phương
hại
đến
lịch
sử
tính
của
chúng,
thì
ở
đây,
tác
giả
bài
viết
cũng
thấy
cần
đặc
biệt
tập
trung
chú
tâm
vào
ý
nghĩa
thần
học
về
tính
cách
đồng
trinh
của
Đức
Mẹ,
tức
hơn
là
vào
tính
cách
lịch
sử
của
vấn
đề,
bởi
cho
rằng
tính
cách
lịch
sử
của
vấn
đề
là
chuyện
hiển
nhiên,
dù
vẫn
ý
thức
rất
rõ
về
các
vấn
đề
được
nêu
lên
trong
các
tác
phẩm
gần
đây.
Như
đã
kết
luận
trên
đây,
ý
niệm
Tin
Mừng
về
môn
đồ
tính
bao
hàm
hai
yếu
tố:
hành
động
sáng
kiến
của
Thiên
Chúa
trong
việc
“phát
ngôn,”
và
hành
động
đáp
trả
của
người
môn
đồ
trong
việc
lắng
nghe
và
áp
dụng
vào
trong
cuộc
sống
mình
lời
Thiên
Chúa.
Đến
đây,
câu
hỏi
đặt
ra
là,
mô
biểu
này
sẽ
soi
sáng
thế
nào
để
giúp
cho
hiểu
được
vấn
đề
đồng
trinh
tính
của
Đức
Maria?
Trong
các
cuốn
Tin
Mừng
của
Mátthêu
và
Luca,
hai
Phúc
Âm
gia
này
đã
minh
bạch
trình
bày
về
vấn
đề
thụ
thai
vô
nhiễm
Đức
Giêsu.
Trong
biến
cố
Truyền
tin,
Thiên
Chúa
đã
có
hành
động
đề
xuất
sáng
kiến.
Lời
Thiên
Chúa
mà
Đức
Maria
nghe,
trước
hết
được
chuyển
đạt
cho
ngài
qua
thông
điệp
sứ
thần
truyền
đạt
(x.
Lc
1:26-38).
Nhưng
lời
ấy
không
dừng
lại
ở
mức
độ
một
lời
phát
biểu
qua
miệng
sứ
thần.
Một
khi
Đức
Maria
đón
nhận
điều
Thiên
Chúa
đang
nói
với
mình,
thì
chính
Lời
của
Thiên
Chúa,
Con
duy
nhất
của
Thiên
Chúa,
nhập
thể
vào
cung
lòng
đồng
trinh
của
ngài.
Phản
ứng
của
Đức
Maria
chắc
chắn
là
lời
đáp
trả
của
một
môn
đồ
biết
lắng
nghe
và
ấp ủ
trong
lòng
mình
lời
Thiên
Chúa.
Vậy
đâu
là ý
nghĩa
của
việc
ngài
cũng
là
một
người
nữ
đồng
trinh?
Trong
thời
gian
gần
đây,
các
học
giả
đã
nhận
định
cho
rằng
trong
tâm
thức
kitô,
việc
suy
ngẫm
về
biến
cố
Phục
sinh
là
bước
khởi
đầu
để
đi
đến
chỗ
công
nhận
tước
vị
Con
Thiên
Chúa
của
Đức
Giêsu.
Thoạt
đầu,
Phục
sinh
chính
là
biến
cố
tỏ
lộ
cho
thấy
Đức
Giêsu
là
Con
Thiên
Chúa
và
là
Đấng
mang
Thần
Khí
trong
mình
(x.
Cv
13:33-37;
Rm
1:4).
Về
sau,
người
ta
lại
thấy
rằng
điều
này
cũng
đã
được
tỏ
lộ
ra
trước
cuộc
Khổ
nạn
(trong
biến
cố
Biến
hình)
và
thậm
chí
là
vào
lúc
khởi
đầu
sứ
vụ
công
khai
(trong
biến
cố
Đức
Giêsu
chịu
phép
rửa
nơi
sông
Giođan).
Thánh
Phaolô
đã
lùi
lại
xa
hơn,
nhìn
vào
cuộc
hạ
sinh
của
Đức
Giêsu,
để
rồi
trình
bày
cho
thấy
rằng
Đức
Kitô
đã
là
Con
Thiên
Chúa
từ
lúc
Người
“được
sinh
làm
con
một
người
đàn
bà,
và
sống
dưới
lề
luật”
(Gl
4:
4).
Cuối
cùng,
suy
tư
kitô
đã
bắt
gặp
nơi
sự
việc
thụ
thai
đồng
trinh
một
dấu
chỉ
cho
thấy
rằng
Đức
Giêsu
đích
thực
là
Con
Thiên
Chúa.
Tiếp
tục
đào
sâu
cuộc
suy
tư
về
điều
này,
các
Giáo
phụ
thời
đầu
đã
nhìn
thấy
nơi
tình
trạng
trinh
bạch
của
Đức
Maria
một
dấu
chỉ
Thiên
Chúa
muốn
tỏ
lộ
về
biến
cố
Nhập
thể.
Sự
việc
Đức
Giêsu
từ
nơi
Thiên
Chúa
mà
đến,
được
chứng
thực
qua
sự
kiện
Đức
Maria
là
một
trinh
nữ
khi
thụ
thai
Người;
tình
trạng
đồng
trinh
của
ngài
đã
cho
thấy
rằng
Đức
Giêsu
không
có
một
người
cha
nhân
loại.
Chính
Đức
Giêsu
cũng
đã
cho
biết
rằng
Người
chỉ
có
một
cha
duy
nhất,
Cha
trên
trời
của
Người.
Sứ
mạng
của
Người
nhắm
đến
việc
mạc
khải
cho
con
người
biết
rằng
Thiên
Chúa
là
Cha
hằng
sống,
và
Người
là
Con
yêu
dấu
duy
nhất
của
Thiên
Chúa.
Mối
phụ
hệ
thần
linh
đã
được
vén
tỏ
qua
tình
trạng
liên
hệ
cá
nhân
hết
sức
mật
thiết
ngài
có
với
Cha
mình.
Mối
tử
hệ
thần
linh
đã
được
vén
tỏ
qua
biến
cố
Người
được
sinh
ra
nhờ
quyền
năng
Thiên
Chúa
trong
cung
lòng
tinh
trong
Đức
Nữ
trinh
Maria.
Không
có
một
người
cha
nhân
loại
nào
làm
che
khuất
đi
được
mối
tương
quan
thần
linh
ấy.
Bởi
đó,
việc
thụ
thai
đồng
trinh
là
một
biểu
tượng
hùng
hồn
cho
thấy
địa
vị
làm
Con
Một
Thiên
Chúa
của
Đức
Giêsu.
Thánh
Giútxtinô
là
một
trong
những
người
đầu
tiên
đưa
ra
lý
lẽ
để
chứng
minh
tình
trạng
đồng
trinh
của
Đức
Maria,
và
có
một
luận
điểm
ngài
xuất
trình
–
trong
cuộc
bút
chiến
chống
lại
những
thi
sĩ
ngoại
giáo
đã
phác
họa
chân
dung
Giupitê
như
một
vị
thần
mang
đầy
ước
muốn
nhục
dục
trong
đầu
khi
tiếp
xúc
với
nữ
giới
–
cho
thấy
là
vẫn
còn
thức
thời.
Ngày
nay,
tuy
không
còn
thấy
ai
thực
sự
có
kiểu
quan
niệm
như
thế
về
Thiên
Chúa
nữa,
nhưng
những
ai
có
xu
hướng
giải
thích
bản
tính
nhân
loại
của
Đức
Giêsu
theo
lối
suy
luận
cho
rằng
ngài
phải
có
một
người
cha
nhân
loại,
thì
cần
phải
suy
nghĩ
về
hậu
quả
của
lối
quan
niệm
ấy
đối
với
cách
hiểu
của
mình
về
Thiên
Chúa.
Việc
thụ
thai
vô
nhiễm
của
Đức
Maria
chứng
thực
cho
thấy
quyền
năng
tuyệt
đối
và
tính
cách
siêu
việt
của
Thiên
Chúa,
Đấng
không
nhất
thiết
phải
hành
động
qua
trung
gian
con
người,
cũng
không
buộc
phải
dùng
những
phương
cách
của
con
người
để
đạt
được
những
gì
Người
muốn
nhắm
đến.
Đức
Maria
thụ
thai
Đức
Kitô
“do
quyền
năng
Chúa
Thánh
Thần”
(Mt
1:18),
Đấng
tỏa
rợp
bóng
trên
ngài
(x.
Lc
1:35).
Chúa
Thánh
Thần
là
quyền
năng
của
Thiên
Chúa
và
tiến
trình
Nhập
thể
đã
được
hoàn
tất
nhờ
Người.
Tuy
nhiên,
điều
này
không
có
nghĩa
Người
là
“cha”
của
Đức
Kitô.
Cũng
sai
lệch
lối
quan
niệm
cho
rằng
Người
đóng
vai
trò
làm
chồng
Đức
Maria.
Giữ
vững
lập
trường
quả
quyết
về
việc
Đức
Maria
là
trinh
nữ,
thì
có
thể
giúp
loại
bỏ
được
bất
kỳ
quan
niệm
ngoại
giáo
nào
cho
rằng
việc
Đức
Giêsu
được
hạ
sinh,
xuất
phát
từ
việc
Đức
Maria
đã
có
một
quan
hệ
vợ
chồng
nào
đó –
thậm
chí
là
đối
với
“Thiên
Chúa.”
Vả
lại,
lối
quan
niệm
cho
rằng
Thần
Khí
chính
là
“chồng”
Đức
Maria
cũng
bộc
lộ
cho
thấy
rõ
một
cách
hiểu
sai
lạc
về
toàn
bộ
vấn
đề.
(Dù
có
muốn
gọi
Đức
Maria
là
“vợ”
của
Người
đi
nữa,
thì
cũng
cần
phải
thận
trọng
đưa
ra
cho
được
cách
lý
giải
thấu
đáo).
Những
cách
gọi
như
thế
muốn
ám
chỉ
rằng
việc
thụ
thai
Đức
Kitô
là
kết
quả
của
một
cuộc
kết
hợp
cộng
phần
giữa
Đức
Maria
với
Chúa
Thánh
Thần,
tương
tự
như
cuộc
kết
hợp
hôn
phối
giữa
vợ
chồng
như
trong
bất
kỳ
một
tiến
trình
thụ
thai
thông
thường
nào.
Đúng
hơn,
mối
quan
hệ
đó
giữa
đôi
bên
thuộc
một
bình
diện
hoàn
toàn
khác
biệt
hẳn,
tức
mối
tương
quan
giữa
Thiên
Chúa
với
thụ
tạo.
Chúa
Thánh
Thần
là
ruah
Yahweh,
tạo
thành
vạn
vật
từ
cảnh
hỗn
mang
(x.
St
1:2);
Người
là
chính
hơi
thở
của
Thiên
Chúa,
thổi
sức
sống
vào
những
gì
đã
chết
ngấm
(x.
Ed
37:5-6,
9).
Người
hoạt
động
từ
bên
trong,
ex
intimo.
Khi
nhờ
được
Thần
Khí
thúc
đẩy
mà
tín
hữu
kêu
lên
“Ábba!
Cha
ơi!”
thì
đó
chính
là
lúc
Thần
Khí
đang
hiện
diện
bên
trong
tâm
hồn
tín
hữu
(x.
Gl
4:6;
Rm
8:15).
Lúc
được
Chúa
Thánh
Thần
tỏa
rợp
bóng
trên
mình,
Đức
Maria
đã
hoàn
toàn
sẵn
sàng
để
làm
theo
những
gì
Người
muốn,
hệt
như
thái
độ
hoàn
toàn
quy
phục
của
thụ
tạo
đối
với
Đấng
Tạo
hóa
vậy.
Người
hoạt
động
trong
Đức
Maria,
làm
cho
ngài
thụ
thai
Đức
Kitô,
theo
cách
thức
không
một
tác
nhân
thụ
tạo
nào
có
thể
làm
nổi.
Theo
thuật
ngữ
kinh
viện
thánh
Grignion
de
Montfort
dùng,
thì
Chúa
Thánh
Thần
“đã
kích
hoạt
khả
năng
sinh
sản
của
Đức
Maria.”
Lẽ
tất,
Đức
Maria
không
có
thái
độ
hoàn
toàn
thụ
động
trong
việc
đón
nhận
tác
động
của
Chúa
Thánh
Thần:
ngài
tự
do
ưng
thuận
đối
với
hoạt
động
của
Chúa
Thánh
Thần
trong
ngài.
Và
ngay
cả
hai
tiếng
“Xin
vâng”
ngài
thốt
lên
cũng
là
kết
quả
do
tác
động
thúc
đẩy
của
Thần
Khí
bên
trong
tâm
hồn
ngài.
Nếu
như
tiếng
thưa
“Ábba,
Cha
ơi!”
của
tín
hữu
tuy
xuất
phát
từ
tác
động
của
Thần
Khí
nhưng
lại
là
tiếng
thưa
chính
tín
hữu
thốt
lên
với
tư
cách
con
cái,
thì
cũng
thế,
hai
tiếng
“Xin
vâng”
của
Đức
Maria
nói
lên
lòng
ưng
thuận
về
phần
cá
nhân
ngài
trước
tác
động
của
Thần
Khí.
Bởi
đó,
kỳ
thực,
không
đơn
thuần
chỉ
là
một
đối
tác
trong
cuộc
thụ
thai
Đức
Giêsu,
Chúa
Thánh
Thần
còn
là
nguyên
nhân
siêu
việt
thúc
đẩy
Đức
Maria
nhận
lấy
vai
trò
làm
mẹ
qua
việc
tỏ
thái
độ
ưng
thuận,
và
đồng
thời
Người
cũng
hoàn
tất
trong
ngài
sứ
mạng
làm
mẹ
mà
chính
ngài
đã
bằng
lòng
đón
nhận.
Không
những
cho
thấy
rõ
sáng
kiến
hành
động
của
Thiên
Chúa
trong
công
trình
cứu
độ,
mà
sự
việc
thụ
thai
đồng
trinh
còn
tỏ
lộ
cho
thấy
tính
chất
hoàn
toàn
nhưng
không
của
nó.
Nó
không
cần
phải
tuân
theo
một
điều
kiện
tất
yếu
nào,
như
các
quy
luật
tự
nhiên
chẳng
hạn.
Biến
cố
Nhập
thể
là
một
ân
huệ
hoàn
toàn
do
bởi
Thiên
Chúa.
“Vũ
trụ
dù
có
chứa
trong
mình
tất
cả
những
gì
là
giàu
có,
phong
nhiêu,
hay
nhân
loại
dù
có
mang
nơi
mình
thiên
tư
sáng
tạo
và
khả
năng
tinh
thông
kỹ
thuật
đến
đâu
đi
nữa,
thì
cũng
không
thể
nào
đủ
sức
vỗ
ngực
tuyên
bố
rằng
mình
có
quyền
sở
hữu
Đức
Giêsu
hay
sáng
tạo
ra
Người
từ
những
nguồn
tiềm
năng
mình
có.
Hoặc
là
Người
xuất
hiện
như
một
ân
huệ
[nhưng
không],
hoặc
là
không
bao
giờ
Người
xuất
hiện.”
Những
ý
tưởng
gợi
lên
qua
sự
việc
thụ
thai
đồng
trinh
còn
giúp
tiến
sâu
vào
trong
mầu
nhiệm
Đức
Kitô.
Tình
trạng
đồng
trinh
của
Đức
Maria
còn
là
một
dấu
chỉ
biểu
hiện
tính
cách
siêu
việt,
vượt
lên
trên
tiến
trình
lịch
sử,
của
Đức
Kitô.
Tuy
việc
Đức
Kitô
thụ
thai
trong
cung
lòng
Đức
Maria
là
một
sự
kiện
lịch
sử,
nhưng
cách
thức
hoàn
thành
sự
việc
này
lại
vén
lộ
cho
thấy
thế
đứng
độc
lập
của
Người
vượt
trên
mọi
giới
hạn
của
lịch
sử.
Việc
thụ
thai
nói
lên
tính
cách
lịch
sử;
việc
thụ
thai
đồng
trinh
nói
lên
tính
cách
độc
lập
đối
với
lịch
sử
con
người.
“Khi
thời
gian
tới
hồi
viên
mãn,
Thiên
Chúa
đã
sai
Con
mình
tới,
sinh
làm
con
một
người
phụ
nữ,
và
sống
dưới
lề
luật”
(Gl
4:4).
Do
đó,
Đức
Maria
là
nơi
chốn
qua
đó
Đức
Giêsu
đã
đi
vào
tiến
trình
lịch
sử
nhân
loại.
Tuy
nhiên,
ngài
cũng
là
một
trinh
nữ,
và
Đức
Giêsu
đã
không
xuất
hiện
như
là
kết
quả
của
hành
động
chăn
gối
giữa
hai
vợ
chồng
theo
điều
kiện
thông
thường
phải
có
trong
tiến
trình
lịch
sử:
Đức
Giêsu
xuất
hiện
nhờ
vào
một
tác
động
can
thiệp
đến
từ
bên
ngoài
dòng
diễn
tiến
thông
thường
của
lịch
sử
con
người,
và
do
một
mô
dạng
nguyên
nhân
(mode
of
causality)
vượt
lên
trên
những
phạm
trù
vật
chất
vận
hành
trong
thế
giới
này.
“Lúc
khởi
đầu
đã
có
Ngôi
Lời...
và
Ngôi
Lời
đã
trở
nên
người
phàm”
(Ga
1:1,
14).
“Đức
Giêsu
Kitô
vốn
dĩ
là
Thiên
Chúa,
mà
không
nghĩ
phải
nhất
thiết
duy
trì
địa
vị
ngang
hàng
với
Thiên
Chúa,
nhưng
đã
hoàn
toàn
trút
bỏ
vinh
quang
...
và
trở
nên
giống
phàm
nhân,
sống
như
người
trần
thế”
(Pl
2:6-7;
cũng
xem
Cl
1:17).
Đức
Giêsu
là
Chúa
của
lịch
sử.
Người
là
trung
tâm,
là
tiêu
điểm
của
lịch
sử:
giờ
đây,
mọi
thứ
tồn
tại
trước
và
sau
khi
ngài
xuất
hiện
trong
tiến
trình
lịch
sử,
đều
được
nhìn
trong
mối
tương
quan
quy
chiếu
về
với
Người.
Thiên
Chúa
“cho
ta
được
biết
thiên
ý
nhiệm
mầu
...
đó
là
quy
tụ
muôn
loài
trong
trời
đất
dưới
quyền
một
thủ
lãnh
là
Đức
Kitô”
(Ep
1:9.10).
Qua
biến
cố
tử
nạn
và
phục
sinh
vinh
quang
của
mình,
Đức
Kitô
đã
chính
thức
đứng
vào
cương
vị
làm
Chúa
của
lịch
sử;
tuy
nhiên,
quyền
làm
chủ
ấy
của
Người
trên
muôn
loài
muôn
vật
không
phải
bắt
đầu
tiến
hành
từ
biến
cố
đó.
Quyền
làm
chủ
ấy
đã
hiện
diện
trong
chính
cách
thức
Người
trở
thành
con
người.
Đối
chiếu
với
biến
cố
phục
sinh
của
Chúa,
có
thể
dùng
đến
một
kiểu
hình
ảnh
so
sánh
khác
nữa.
Một
phần
phân
lập
trong
truyền
thống
sơ
khai
đã
sánh
ví
cuộc
chào
đời
của
Đức
Giêsu
từ
cung
lòng
Đức
Maria
(virginitas
in
partu)
với
cuộc
Người
chỗi
dậy
từ
ngôi
mộ
trong
biến
cố
Phục
sinh.
Các
khía
cạnh
của
vấn
đề
mà
truyền
thống
này
đưa
ra
là
không
thỏa
đáng
(chẳng
hạn,
lối
ra
và
lối
vào
đều
đi
qua
“những
cánh
cửa
đóng
kín”);
lề
lối
khảo
xét
về
cách
thức
hoàn
tất
việc
thụ
thai-sinh
hạ
đồng
trinh
và
cuộc
Phục
sinh
như
thế
đã
không
mang
lại
được
một
ích
lợi
thần
học
nào.
Tuy
nhiên,
cuộc
Phục
sinh
lại
thực
sự
gợi
lên
một
sự
đối
sánh
tương
đồng
có
thể
đem
lại
nhiều
ích
lợi
hơn.
Cả
cuộc
thụ
thai
đồng
trinh
lẫn
cuộc
Phục
sinh
đều
có
tính
cách
tiên
báo
về
bước
khởi
đầu
của
một
cuộc
sống
mới.
Qua
cuộc
thụ
thai
trong
cung
lòng
Đức
Nữ
trinh,
người
Con
của
Chúa
Cha
đã
bắt
đầu
một
cuộc
sống
mới
trong
tư
thế
là
con
người;
qua
cuộc
sống
lại
từ
ngôi
mồ,
con
người
ấy
đã
tiến
vào
một
cuộc
sống
mới
tràn
đầy
vinh
quang
trong
tư
thế
là
người
Con
của
Chúa
Cha.
Vượt
lên
trên
tác
nhân
loài
người,
cả
hai
sự
kiện
này
đã
không
thể
hoàn
thành
được
nếu
chỉ
đơn
thuần
dựa
vào
phương
tiện
loài
người.
Bởi
đó,
cả
hai
sự
kiện
đều
là
những
dấu
chỉ
cho
thấy
rõ
quyền
năng
và
sáng
kiến
hành
động
của
Thiên
Chúa.
Tuy
nhiên,
không
nên
gượng
ép
quá
trớn
lối
đối
sánh
trên
đây.
Việc
thụ
thai
đồng
trinh
không
phải
là
một
cuộc
“tiểu
phục
sinh.”
Cuộc
Phục
sinh
là
một
biến
cố
độc
nhất
vô
nhị
trong
lịch
sử
cứu
độ.
Đức
Kitô
đã
chết
chỉ
một
lần
duy
nhất,
và
Người
không
bao
giờ
chết
nữa
(x.
Rm
6:8-9);
hình
dạng
con
người
mà
Đức
Kitô
mặc
lấy
cũng
không
hề
lẫn
lộn
với
thân
phận
người
Con
được
tôn
vinh
của
Thiên
Chúa.
Đúng
hơn,
cuộc
thụ
thai
đồng
trinh
là
một
hình
ảnh
đối
trọng
với
cuộc
Phục
sinh,
một
hình
ảnh
minh
họa
cho
phần
đầu
tiên
của
bài
tụng
ca
hết
sức
sinh
động
về
Đức
Kitô
trong
thư
gửi
tín
hữu
Philípphê
(2:6-11).
Theo
kế
hoạch
cứu
độ
vĩ
đại
đã
vạch
ra,
từ
địa
vị
thần
linh
cao
vời,
Con
Thiên
Chúa
đã
hạ
giáng
và
mặc
lấy
thân
phận
con
người
trong
cung
lòng
Đức
Nữ
trinh;
bởi
đó,
Người
đã
được
nâng
cao
đến
đỉnh
điểm
vinh
quang
bên
hữu
Chúa
Cha.
Cả
hai
phần
của
tiến
trình
năng
động
này
đã
được
hoàn
tất
nhờ
quyền
năng
cứu
độ
của
Thiên
Chúa.
Cuộc
Phục
sinh
là
một
dấu
chỉ
rõ
ràng
nói
lên
năng
quyền
và
vinh
quang
của
Thiên
Chúa;
cuộc
thụ
thai
đồng
trinh
là
hoạt
động
khai
mào
và
cũng
là
một
dấu
chỉ
tỏ
lộ
cùng
một
quyền
năng
và
vinh
quang
ấy.
Những
gì
đã
được
vén
ra
vào
lúc
khởi
đầu,
lại
được
tỏ
lộ
ra
lần
nữa,
theo
một
cách
thức
thậm
chí
còn
lớn
lao
hơn,
vào
hồi
chung
cục.
Đến
đây,
tạm
giữ
lặng
thinh
về
hành
động
sáng
kiến
từ
phía
Thiên
Chúa,
bài
viết
sẽ
lưu
tâm
xem
xét
đến
yếu
tố
thứ
hai
trong
cách
hiểu
của
Tin
Mừng
về
môn
đồ
tính:
phản
ứng
đáp
trả
của
người
môn
đồ
trước
việc
lắng
nghe
lời
Thiên
Chúa.
Bài
viết
đã
có
dịp
bàn
qua
về
việc
Đức
Maria
đã
có
thái
độ
thuận
theo
tác
động
thúc
đẩy
của
Chúa
Thánh
Thần
và
việc
ngài
đã
trở
thành
mẹ
qua
hai
tiếng
“xin
vâng”
chính
ngài
thốt
lên
như
thế
nào
rồi.
Thái
độ
ưng
thuận
đó
là
phản
ứng
đáp
trả
của
một
trinh
nữ
đối
với
lời
Thiên
Chúa;
đó
cũng
chính
là
thái
độ
đáp
trả
của
một
môn
đồ.
Nếu
nhìn
theo
khía
cạnh
tiêu
cực
–
tức
là
gạt
sang
một
bên
những
gì
liên
quan
đến
hoạt
động
tính
dục
–
thì
tình
trạng
đồng
trinh
chẳng
có
giá
trị
gì
vượt
trỗi
so
với
tình
trạng
kết
hợp
xác
thịt
(như
thường
thấy
trong
hôn
nhân).
Người
nam
và
người
nữ
được
dựng
nên
vốn
là
để
cho
nhau
(x.
St
2:20-24);
chối
bỏ
việc
kết
hợp
xác
thịt
theo
ý
nghĩa
ấy,
thì
tình
trạng
đồng
trinh
ở
đây
là
“trái
lẽ
tự
nhiên.”
Tuy
nhiên,
cũng
có
thể
nhìn
vào
tình
trạng
đồng
trinh
theo
khía
cạnh
tích
cực
của
nó,
xét
như
một
thái
độ
sẵn
sàng
và
tình
trạng
cam
kết
trọn
vẹn
dấn
thân
cho
người
khác.
Trong
ý
nghĩa
này,
kẻ
đồng
trinh
không
phải
là
người
giữ
mình
cho
khỏi
dính
líu
vào
các
mối
quan
hệ
nam
nữ
bất
chính
tạm
thời,
nhưng
là
người
đã
nỗ
lực
duy
trì
được
một
tình
trạng
nguyên
vẹn
cá
nhân
để
có
thể
hoàn
toàn
hiến
thân
cho
người
khác.
Như
thế,
đồng
trinh
tính
ở
đây
không
đơn
thuần
chỉ
là
chuyện
liên
quan
đến
tình
trạng
nguyên
vẹn
về
mặt
thể
xác;
đúng
hơn,
tình
trạng
nguyên
vẹn
thể
xác
là
một
dấu
chỉ
nói
lên
tính
cách
nguyên
vẹn
của
bản
thân
mà
kẻ
đồng
trinh
muốn
trao
tặng
cho
người
mình
hoàn
toàn
cam
kết
hiến
dâng
và
yêu
mến.
Bởi
đó,
tình
trạng
đồng
trinh
ở
đây
là
một
món
quà
gói
ghém
trọn
vẹn
bản
thân
người
cho.
Không
nhất
thiết
phải
quan
niệm
tình
trạng
đồng
trinh
ấy
như
là
một
bậc
sống
tự
trị,
riêng
biệt.
Đó
là
tình
trạng
mở
đầu
để
tiến
đến
một
mối
kết
hiệp
thân
mật
tự
nhiên
giữa
hai
người
trong
một
cuộc
hôn
nhân.
Kẻ
đồng
trinh
giữ
mình
nguyên
vẹn
để
có
thể
dâng
trọn
con
người
mình
cho
người
khác.
Xét
theo
bình
diện
tự
nhiên
của
vạn
vật,
thì
đồng
trinh
tính
là
một
tình
trạng
tạm
thời,
dành
chỗ
cho
hành
động
cam
kết
hiến
thân
cho
người
khác.
Tình
trạng
đồng
trinh
là
tình
trạng
dọn
đường
sẵn
sàng
cho
khả
năng
sinh
sản
qua
việc
kết
hợp
hôn
nhân
với
người
khác.
Tuy
nhiên,
việc
hướng
về
“người
khác”
như
thế
không
có
nghĩa
rằng
chỉ
khi
nào
tìm
thấy
được
một
người
duy
nhất
nào
đó,
thì
tình
trạng
đồng
trinh
mới
đạt
đến
đích
điểm
thành
tựu
của
nó.
Nhiều
người
sống
độc
thân
vẫn
tìm
thấy
được
cảm
giác
hết
sức
mãn
nguyện
trong
việc
dấn
thân
phục
vụ
nhiều
người
nam
nữ
khác,
đặc
biệt
là
những
ai
kém
may
mắn
hơn
họ.
Và
xét
theo
bình
diện
tôn
giáo,
thì
đồng
trinh
tính
mang
lấy
một
giá
trị
siêu
việt.
Đó
là
kiểu
thái
độ
hướng
nhắm
trọn
vẹn
con
người
mình
về
phía
người
khác,
nhưng
người
khác
ở
đây
không
phải
là
một
con
người,
mà
là
chính
Thiên
Chúa.
Bởi
đó,
trong
bình
diện
tôn
giáo,
đồng
trinh
tính
trở
thành
món
quà
gói
ghém
trọn
vẹn
bản
thân
con
người
để
dâng
cho
Thiên
Chúa,
và
dấu
hiệu
nói
lên
điều
đó
chính
là
việc
giữ
mình
khỏi
hành
động
kết
hợp
xác
thịt
với
bất
kỳ
con
người
nào
khác,
bởi
hành
động
kết
hợp
xác
thịt
như
thế
chỉ
nói
lên
việc
con
người
trao
hiến
bản
thân
mình
cho
người
khác,
hơn
là
cho
Thiên
Chúa.
Như
thế,
Đức
Maria
là
một
mẫu
gương
về
đồng
trinh
tính.
Ở
biến
cố
Truyền
tin,
lời
ngài
đáp
trả
sứ
thần
đã
cho
thấy
tính
cách
hoàn
toàn
đồng
trinh
của
ngài:
“Tôi
đây
là
nữ
tỳ
của
Chúa,
xin
Chúa
cứ
làm
cho
tôi
như
lời
sứ
thần
nói”
(Lc
1:38).
Với
việc
gọi
mình
là
nữ
tỳ
của
Chúa,
Đức
Maria
đã
biểu
lộ
cho
thấy
thái
độ
sẵn
sàng
quy
thuận
của
ngài
theo
những
gì
Chúa
ngài
mong
muốn.
Ngài
đã
lấy
con
người
mình
làm
món
quà
để
trao
dâng
cho
Chúa.
Ngài
đã
không
giữ
lại
cho
mình
bất
kỳ
điều
gì,
và
món
quà
của
ngài
cũng
không
hề
thiếu
bất
kỳ
thứ
gì
cần
có
để
trao
dâng.
Là
trinh
nữ,
ngài
đã
không
dâng
mình
cho
bất
kỳ
con
người
nào
trước
đó
(dù
ngài
đã
đính
hôn
với
Giuse).
Ngài
đã
không
làm
mất
đi
tình
trạng
nguyên
vẹn
nơi
bản
thân
mình
qua
bất
kỳ
một
cam
kết
hiến
thân
nào
khác;
ngài
đã
giữ
được
một
tình
trạng
nguyên
vẹn
của
bản
thân
để
rồi
món
quà
ngài
dâng
– là
chính
bản
thân
ngài
– có
thể
trở
nên
hoàn
toàn
và
trọn
vẹn,
không
một
chút
sứt
mẻ
nào
do
những
cam
kết
trước
đó.
Tình
trạng
đồng
trinh
của
ngài
cũng
đơm
hoa
kết
trái
nữa.
Đặt
mình
trong
tư
thế
sẵn
sàng
thuận
theo
ý
Chúa
là
ngài
đã
đón
nhận
tất
cả
những
gì
Người
dự
định:
Con
của
Người
sẽ
mặc
lấy
xác
phàm
trong
dạ
ngài,
và
ngài
sẽ
trở
thành
mẹ
của
người
Con
ấy.
Như
thế,
tình
trạng
đồng
trinh
của
ngài
đã
mang
lại
hoa
trái
là
chức
vị
làm
mẹ.
Tình
trạng
đồng
trinh
ấy
đã
không
làm
cho
ngài
phải
rơi
vào
tình
trạng
hiếm
muộn;
thay
vào
đó,
chính
tình
trạng
đồng
trinh
ấy
đã
mở
đường
để
khả
năng
sinh
sản
của
ngài
được
dịp
phát
triển
phi
thường
hơn
bao
giờ
hết,
bởi
theo
kế
hoạch
tiền
định
của
Thiên
Chúa,
không
những
là
mẹ
Đức
Kitô
–
trưởng
tử
sinh
ra
trước
mọi
loài
thụ
tạo
(x.
Cl
1:15)
–
mà
thôi,
nhưng
ngài
còn
là
mẹ
của
hết
thảy
những
ai
được
tái
sinh
vào
cuộc
sống
mới
trong
Đức
Kitô
(x.
Ga
3:3;
1Ga
5:11).
Do
vậy,
tình
trạng
đồng
trinh
của
ngài
được
phối
hiệp
chặt
chẽ
với
chức
vị
làm
mẹ.
Như
thế,
không
có
gì
là
nghịch
lý
cả,
bởi
tình
trạng
đồng
trinh,
như
được
trình
bày
rõ ở
trên,
không
gì
khác
hơn
là
tình
trạng
mở
đầu
cũng
như
dọn
đường
cho
tình
trạng
và
khả
năng
sinh
sản
dồi
dào
về
sau.
Vì
mang
tính
cách
trọn
vẹn,
nên
không
chỉ
gói
trọn
vào
tất
cả
những
gì
có
nơi
bản
thân
ngài
vào
trước
và
ngay
trong
thời
điểm
Truyền
tin,
nhưng
hành
động
dâng
hiến
bản
thân
của
Đức
Maria
còn
mở
rộng
về
tương
lai
phía
trước
nữa.
Thái
độ
ưng
thuận
của
ngài
đối
với
Thiên
Chúa
không
bị
giới
hạn
tạm
thời
vào
một
khoảng
thời
gian
nhất
định
nào
đó –
một
tiếng
thưa
“xin
vâng,
ngay
trong
lúc
này!”
mà
thôi.
Đón
nhận
địa
vị
làm
mẹ
Con
Đấng
Tối
cao
là
Đức
Maria
đã
dâng
hiến
bản
thân
mình
cho
một
điều
bất
khả
vãn
hồi.
Hành
động
hiến
thân
của
ngài
sẽ
không
thể
nào
thu
hồi
lại
được,
không
thể
nào
rút
lại
được
món
quà
– là
chính
bản
thân
mình
– mà
ngài
đã
trao
hiến.
Bởi
qua
việc
đón
nhận
địa
vị
làm
mẹ
ấy,
ngài
đã
chấp
nhận
một
điều
không
thể
đảo
ngược
được.
Một
khi
Đức
Maria
trở
thành
mẹ
Đức
Kitô,
thì
Đức
Kitô
sẽ
chẳng
bao
giờ
có
thể
mang
lấy
thân
phận
nào
khác
hơn
ngoài
thân
phận
làm
Con
của
ngài.
Đây
chính
là ý
nghĩa
về
tình
trạng
trọn
đời
đồng
trinh
của
Đức
Maria,
tức
virginitas
post
partum
của
ngài.
Tình
trạng
này
biểu
thị
thái
độ
cam
kết
trọn
vẹn
hiến
thân
của
ngài
cho
Thiên
Chúa
cũng
như
thái
độ
liên
lỉ
đón
nhận
thứ
vai
trò
mà
Người
đã
đặt
ra
cho
ngài:
địa
vị
làm
mẹ
của
ngài
đối
với
Con
mình
và
đối
với
tất
cả
những
ai
dự
phần
vào
mối
tử
hệ
với
người
Con
ấy.
Và
từ
đó
trở
về
sau,
ngài
phải
được
tuyên
tôn
là
Đức
Nữ
Maria
Trọn
đời
Đồng
trinh.
Và,
tựu
trung,
có
thể
coi
tình
trạng
đồng
trinh
của
Đức
Maria
như
là
tình
trạng
biểu
thị
thái
độ
của
một
con
người
hằng
biết
lắng
nghe
cùng
làm
theo
lời
Thiên
Chúa
một
cách
liên
lỉ
và
vô
điều
kiện.
Nói
khác
đi,
đó
chính
là
thái
độ
của
một
môn
đồ
hoàn
hảo.
Thế
nhưng,
đồng
trinh
tính
của
Đức
Maria
phải
được
nhìn
nhận
không
chỉ
đơn
thuần
căn
cứ
vào
thái
độ
phản
ứng
về
phần
cá
nhân
ngài
đối
với
hành
động
sáng
kiến
của
Thiên
Chúa
mà
thôi,
nhưng
còn
dựa
theo
bối
cảnh
lớn
rộng
hơn
của
Cựu
Ước
và
theo
kế
hoạch
cứu
độ
dành
cho
hết
thảy
mọi
người
qua
cuộc
Nhập
Thể.
Đồng
trinh
tính
của
Đức
Maria
có
liên
quan
đến
một
thái
trạng
căn
bản
của
tâm
hồn
con
người,
thái
trạng
vốn
đã
được
biểu
lộ
ra
và
thường
được
tôn
vinh
trong
Cựu
Ước:
tâm
trạng
khó
nghèo
trước
mặt
Thiên
Chúa.
Đức
Maria
là
người
cuối
cùng
trong
chuỗi
dài
những
phụ
nữ
hết
sức
đặc
biệt
của
Cựu
Ước,
những
phụ
nữ
nghèo
theo
diện
hiếm
muộn
nhưng
lại
đặc
biệt
được
Thiên
Chúa
chúc
phúc
và
ban
cho
khả
năng
sinh
nở
dồi
dào:
bà
Sara
– vợ
ông
Abraham
và
là
mẹ
của
Isaác
–
bà
Rêbécca,
mẹ
của
Giacóp;
bà
Rachel,
mẹ
của
Giuse;
mẹ
của
Samson;
bà
Anna,
mẹ
của
Samuên;
bà
Êlizabét,
mẹ
của
Gioan
Tẩy
giả.
Tuy
phải
chịu
căn
bệnh
hiếm
muộn
tự
nhiên,
nhưng
các
phụ
nữ
này
đã
được
Thiên
Chúa
tuyển
chọn
để
mang
thai
và
hạ
sinh
những
người
con
mang
vận
mệnh
lớn
lao,
cao
cả.
Họ
là
những
minh
họa
điển
hình
về
xác
tín
cho
rằng
phụ
nữ
cần
phải
có
thái
độ
cậy
trông
hướng
về
Thiên
Chúa
để
được
ban
cho
khả
năng
sinh
sản
dồi
dào.
Trước
biến
cố
Truyền
tin,
không
mắc
phải
căn
bệnh
hiếm
muộn
tự
nhiên,
nhưng
Đức
Maria
đã
tự
nguyện
giữ
mình
đồng
trinh.
Qua
thái
độ
đáp
trả
thấm
đượm
tính
cách
trinh
trong
của
ngài
đối
với
sáng
kiến
của
Thiên
Chúa,
Đức
Maria
đã
trọn
vẹn
dâng
hiến
chính
mình
cho
Người,
hoàn
toàn
quy
thuận
bản
thân
ngài
vào
thánh
ý
Thiên
Chúa.
Bởi
thế,
ngài
là
mẫu
gương
điển
hình
giữa
những
người
nghèo
của
Đấng
Giavê,
những
kẻ
đã
tìm
kiếm
duy
nhất
nơi
Người
mọi
phúc
lành,
ân
huệ.
Tình
trạng
nghèo
khó
trong
tâm
hồn
của
ngài
đã
được
ân
thưởng
bằng
thứ
hoa
quả
ngài
mang
trong
cung
lòng
mình:
ngài
đã
sinh
hạ
một
con
người
giữ
lấy
vận
mệnh
cao
cả,
Đấng
Cứu
chuộc
muôn
dân,
Đấng
Thiên
sai
muôn
người
đợi
trông
qua
nhiều
thời
đại.
“Bởi
đó,
Đức
Maria
là
hình
ảnh
thu
nhỏ
của
tình
trạng
mà
Cựu
Ước
gọi
là
“nghèo,”
và
là
mẫu
gương
tiêu
biểu
cho
những
phụ
nữ
hiếm
muộn
trước
mặt
người
đời,
nhưng
theo
ý
Thiên
Chúa
đã
định
thì
nhằm
chuẩn
bị
hướng
tới
một
khả
năng
sinh
sản
dồi
dào
hơn.”
Tuy
nhiên,
qua
việc
hạ
sinh
Đức
Giêsu,
Đức
Maria
hạ
sinh
không
chỉ
một
con
người
duy
nhất,
mà
còn
cả
một
dân
tộc
mới
nữa.
Con
của
ngài
là
trưởng
tử
sinh
ra
trước
mọi
loài
thụ
tạo
(x.
Cl
1:28-20).
Ở
đây,
có
thể
nhìn
ra
được
một
mối
liên
hệ
đối
sánh
với
Abraham,
con
người
đã
nhờ
lòng
tin
mà
hạ
sinh
một
dân
tộc
vĩ
đại,
dân
Thiên
Chúa.
Cũng
thế,
nhờ
lòng
tin
của
mình
mà
Đức
Maria
đã
hạ
sinh
một
dân
tộc
thậm
chí
còn
vĩ
đại
hơn,
dân
mới
của
Thiên
Chúa.
Giáo
hội
là
dòng
dõi
mới,
xuất
phát
từ
Ađam
thứ
hai
(x.
1Cr
15:22),
là
những
nghĩa
tử
của
Chúa
Cha
(x.
Rm
8:15-17;
Gl
4:6-7)
và
là
những
môn
đồ
của
Đức
Kitô
(x.
Kh
12:17).
Trong
biến
cố
Truyền
tin,
thái
độ
ưng
thuận
thấm
đượm
tính
cách
trinh
trong
của
Đức
Maria,
đã
giúp
ngài
có
thể
trở
nên
người
mẹ
của
Ađam
mới
này,
và
thái
độ
ưng
thuận
ấy
vẫn
tiếp
tục
thể
hiện
cho
đến
tận
Canvariô
là
nơi
ngài
đã
được
tuyên
bố
là
mẹ
các
môn
đồ.
Quả
thực,
ngài
chính
là
Mẹ
Đồng
trinh
của
Giáo
hội.
Ý
thức
mình
như
là
hiền
thê
trinh
trong
của
Đức
Kitô
(x.
2Cr
11:2),
Giáo
hội
nhận
rõ
Đức
Maria
là
mẫu
gương
của
mình.
(Quả
là
thú
vị
khi
thấy
rằng
trong
sách
Khải
huyền,
đoàn
ngũ
môn
đồ
trung
tín
được
ví
như
những
kẻ
đồng
trinh
luôn
sát
gót
bước
theo
Con
Chiên
đến
bất
cứ
nơi
nào
Con
Chiên
đi
đến:
Kh
14:4-5).
Giáo
hội
là
một
trinh
nữ,
trọn
vẹn
cam
kết
dấn
thân
cho
Đức
Kitô
và
phụng
sự
Người
với
thái
độ
tận
hiến
tận
tình
trong
đức
ái.
Cũng
là
mẹ,
Đức
Maria
sinh
hạ
các
môn
đồ
mới,
những
người
con
mới
của
Thiên
Chúa;
những
người
con
mới
này
được
sinh
ra
theo
hình
ảnh
của
người
Con
đầu
lòng,
sống
theo
gương
mẫu
của
người
Con
ấy.
Đức
Maria
đã
hoàn
thành
cả
hai
vai
trò
ấy
theo
một
thể
cách
mẫu
mực.
Lời
ngài
nói
ra
với
các
gia
nhân
ở
tiệc
cưới
Cana
–
“Người
bảo
gì,
các
anh
cứ
việc
làm
theo”
(Ga
2:5)
–
đã
hàm
tóm
được
vai
trò
song
đôi
ấy:
là
trinh
nữ,
ngài
hoàn
toàn
sẵn
sàng
thực
hiện
bất
cứ
điều
gì
Con
ngài
mong
muốn;
là
mẹ,
ngài
làm
cho
những
người
khác
cũng
bước
theo
Con
mình
với
tư
cách
là
môn
đồ
của
Người.
Tuy
nhiên,
thứ
nền
tảng
mà
cả
hai
vai
trò
ấy
dựa
vào
–
thứ
gốc
rễ
kết
hợp
cả
hai
vai
trò
ấy
lại
trong
một
thân
cây
duy
nhất
và
truyền
sức
sống
cho
chúng
–
chính
là
cương
vị
môn
đồ
của
Đức
Maria.
Là
người
lắng
nghe
và
tuân
giữ
lời
Thiên
Chúa,
nên
Đức
Maria
là
Trinh
nữ
thượng
hạng;
là
người
đón
nhận
Ngôi
Lời
của
Thiên
Chúa
và
âu
yếm
cưu
mang
Người
trong
dạ
mình,
nên
Đức
Maria
là
Mẹ
của
hết
thảy
mọi
người
mẹ.
Về
điều
này,
chưa
thấy
ai
có
lối
diễn
tả
tài
tình
cho
bằng
Đantê.
Ông
cất
lời
ca
ngợi
như
sau:
Vergine
madre,
figlia
del
tuo
figlio,
“Đức
Mẹ
Đồng
trinh,
nữ
tử
(môn
đồ)
của
Con
ngài.”
Như
thế,
soi
vào
mẫu
gương
của
Đức
Maria
trọn
đời
đồng
trinh,
Giáo
hội
cũng
nhận
ra
mình
là
một
người
mẹ
đồng
trinh.
Nhìn
vào
giữa
lòng
mình,
Giáo
hội
coi
những
kẻ
đồng
trinh
tận
hiến
như
là
một
dấu
chứng
cụ
thể
cho
cả
thế
giới
biết
về
mầu
nhiệm
ấy,
một
thứ
mầu
nhiệm
quyện
sâu
vào
trong
bản
chất
của
Giáo
hội.
Bởi
thế,
bậc
sống
đồng
trinh
tận
hiến
giữ
vai
trò
của
một
biểu
tượng
về –
và,
qua
đó,
nói
lên
giá
trị
cùng
phẩm
cách
lớn
lao
của
–
chính
Giáo
hội.
Về
điều
này,
thánh
Âugutinô
đã
khéo
léo
diễn
tả
như
sau
“Với
việc
Giáo
hội
hoàn
vũ
là
một
trinh
nữ
kết
hợp
với
một
người
chồng
duy
nhất
là
chính
Đức
Kitô,
thì
chẳng
phải
những
phần
tử
[đồng
trinh]
gìn
giữ
trong
thân
xác
mình
điều
mà
toàn
thể
Giáo
hội
gìn
giữ
trong
đức
tin,
lại
không
xứng
đáng
có
được
vinh
dự
lớn
lao
hay
sao?”
Với
vai
trò
họ
đóng
giữ
ở
trong
Giáo
hội,
như
những
chứng
nhân
về
bản
tính
tuyệt
bực
sâu
xa
của
Giáo
hội
–
cọng
với
việc
Giáo
hội
soi
mình
vào
Đức
Maria
như
là
mẫu
gương
của
mình
–
những
người
sống
bậc
sống
đồng
trinh
tận
hiến
nhờ
đó
mà
được
liên
kết
với
Đức
Maria.
Họ
là
những
“hiện
thân”
của
Đức
Maria
giữa
lòng
thế
giới:
là
những
trinh
nữ,
họ
tái
hiện
cuộc
đời
ngài,
một
cuộc
đời
hằng
chuyên
tâm
phục
vụ
cho
Ngôi
Lời;
song,
là
những
chứng
nhân,
họ
cũng
giữ
trong
mình
một
vai
trò
làm
mẹ,
sản
sinh
ra
những
môn
đồ
mới
cho
Đức
Kitô,
“mặc
lấy
xác
phàm
cho
Ngôi
Lời.”
Tắt
một
lời,
cuộc
đời
của
họ
triệt
để
là
cuộc
đời
của
một
môn
đồ,
dựa
theo
mẫu
gương
của
Đức
Maria,
người
môn
đồ
hoàn
hảo.
KẾT
LUẬN
Như
đã
thấy,
các
sách
Tin
Mừng
cung
cấp
đầy
đủ
những
chứng
cứ
minh
xác
về
tầm
trọng
yếu
và
giá
trị
lớn
lao
mà
Đức
Kitô
muốn
kết
chặt
với
cương
vị
môn
đồ;
đối
với
Đức
Kitô,
cương
vị
môn
đồ
còn
cao
trọng
hơn
cả
các
mối
liên
hệ
máu
mủ
trong
gia
đình.
Bởi
đó,
chính
dựa
vào
cương
vị
môn
đồ,
chứ
không
phải
dựa
vào
địa
vị
làm
mẹ
Đức
Giêsu,
thì
Đức
Maria
mới
có
được
một
chỗ
đứng
hết
sức
cao
trọng
trong
quan
hệ
cảm
mến
mật
thiết
với
Đức
Giêsu.
Các
thần
học
gia
cần
ra
sức
nghiêm
cẩn
dựa
vào
chứng
cứ
Tin
Mừng
ấy
để
lấy
cương
vị
môn
đồ
hoàn
hảo
của
Đức
Maria
làm
mô
biểu
mà
khảo
xét
và
giải
thích
toàn
bộ
mầu
nhiệm
về
Đức
Maria.
Là
một
khái
niệm
có
đủ
độ
thoáng
rộng
và
bao
quát,
môn
đồ
tính
có
thể
giữ
vai
trò
làm
cơ
sở
hay
trụ
cột
cho
bất
cứ
một
cách
hiểu
nào
có
tính
cách
chuyên
biệt
hơn
về
Đức
Maria,
theo
nhu
cầu
của
các
thời
đại
và
các
nền
văn
hóa
khác
nhau.
Khái
niệm
môn
đồ
tính
cũng
giúp
“giải
thích
được
tính
cách
đặc
biệt
uyển
chuyển
của
hình
ảnh
về
Đức
Maria”
trải
dài
suốt
dòng
lịch
sử
Giáo
hội;
bởi
trong
ánh
sáng
cương
vị
môn
đồ
hoàn
hảo
của
ngài,
ngài
cũng
có
thể
được
tuyên
tôn
như
là
Mẹ
Thiên
Chúa,
là
mẫu
gương
của
Giáo
hội,
và
là
Đức
Nữ
Đồng
trinh
của
hết
thảy
mọi
kẻ
đồng
trinh.
Trong
một
bài
viết
gần
đây,
tác
giả
René
Laurentin
đã
liệt
kê
ra
một
số
điểm
thiếu
sót
đang
tồn
tại
trong
nền
thần
học
hiện
đại
về
Đức
Maria.
Trong
số
những
khuyết
điểm
tác
giả
này
kể
ra,
có
khuynh
hướng
tập
trung
nhấn
mạnh
đến
Đức
Maria
như
là
một
biểu
tượng
văn
hóa
xã
hội
tiêu
biểu,
một
nhân
vật
thần
thoại,
và
một
nguyên
mẫu,
mà
không
chú
trọng
cho
đủ
đến
việc
ngài
cũng
là
một
con
người
thực
sự
giữa
cộng
đoàn
các
thánh.
Nếu
được
nhận
làm
mô
biểu
cho
công
cuộc
tầm
cứu
về
Thánh
mẫu
học,
thì
cương
vị
môn
đồ
của
Đức
Maria
chắc
chắn
sẽ
trở
thành
một
thứ
đối
trọng
với
khuynh
hướng
kia;
bởi
cách
hiểu
như
thế
về
Đức
Maria
được
đặt
cơ
sở
vững
chắc
nơi
Kinh
Thánh,
và
trong
cách
hiểu
ấy,
Đức
Maria
là
một
con
người
cụ
thể
chứ
không
phải
“đơn
thuần
là
một
hình
ảnh
không
tưởng
của
trí
óc
chúng
ta.”
Một
điểm
khiếm
khuyết
khác
mà
tác
giả
Laurentin
có
đề
cập
đến,
chính
là
lập
trường
quả
quyết
về
tính
cách
tùy
thuộc
của
Đức
Maria.
Ngày
nay,
Đức
Maria
thường
được
nhìn
nhận
trong
tư
thế
hoàn
toàn
tùy
thuộc
vào
Đức
Kitô,
hoặc
vào
Thần
Khí.
Tất
nhiên,
đúng
là
mầu
nhiệm
về
Đức
Maria
phải
được
hiểu
trong
mối
liên
hệ
với
mầu
nhiệm
về
Đức
Kitô:
ngài
không
đứng
ở tư
thế
độc
lập,
tự
trị.
Tuy
nhiên,
tính
cách
tùy
thuộc
ấy
lại
thường
được
nhìn
theo
nhãn
quan
tiêu
cực:
chỉ
khi
nào
được
đặt
trong
mối
liên
hệ
với
Đức
Kitô,
thì
Đức
Maria
mới
được
quan
tâm
lưu
ý
đến.
Để
cho
đúng
hơn,
thì
phải
nói
rằng
tính
cách
tùy
thuộc
đó
của
ngài
lại
chính
là
một
khía
cạnh
tích
cực
nơi
con
người
ngài:
đó
là
một
mối
quan
hệ
năng
động
và
tích
cực
quy
hướng
về
Thiên
Chúa.
Sở
dĩ
có
được
một
tầm
giá
trị
quan
trọng
như
thế,
chính
là
bởi
vì
mô
biểu
về
cương
vị
môn
đồ
có
thể
giúp
làm
sáng
tỏ
mối
quan
hệ
giữa
Đức
Maria
với
Thiên
Chúa
và,
cùng
lúc,
cũng
giúp
hiểu
về
ngài
theo
một
cách
nhìn
tích
cực.
Mối
quan
hệ
tùy
thuộc
ấy
không
đơn
thuần
chỉ
là
một
công
cụ
nhận
thức
luận
giúp
định
rõ
thế
đứng
của
Đức
Maria
trên
bình
diện
cứu
độ
học;
quan
trọng
hơn,
đó
chính
là
nét
đặc
trưng
cốt
lõi
về
con
người
của
ngài:
ngài
là
một
môn
đồ.
Khiếm
khuyết
thứ
ba:
nhiều
công
trình
nghiên
cứu
hiện
đại
về
Đức
Maria
làm
như
lãng
quên
đi
mối
liên
hệ
với
truyền
thống
sống
động,
là
“cội
nguồn
và
gốc
rễ
mà
nếu
thiếu
đi,
mọi
thứ
sẽ
trở
nên
héo
khô,
tàn
tạ.”
Trong
khi
đó,
ý
niệm
về
cương
vị
môn
đồ
của
Đức
Maria
lại
có
cơ
sở
vững
chắc
nơi
truyền
thống.
Chính
nhờ
thái
độ
biết
đặt
mình
trong
tư
thế
hoàn
toàn
phụ
thuộc
vào
Thiên
Chúa
– và
nhờ
đó,
được
tự
do
trong
việc
thiết
lập
các
mối
quan
hệ
với
con
người
– mà
liên
tục
suốt
trong
hàng
biết
bao
thế
kỷ
qua,
Đức
Maria
luôn
được
phác
họa
như
là
nữ
tỳ
của
Chúa
và –
cả
đến
ngày
nay
nữa,
trong
thời
đại
“giải
phóng”
này
–
được
biểu
dương
như
là
mẫu
gương
của
những
phụ
nữ
được
giải
phóng.
Trong
bất
kỳ
một
khoa
ngành
tri
thức
nào,
bao
giờ
mô
biểu
cũng
đóng
vai
trò
một
lực
thống
nhất
có
sức
tác
động
mạnh
mẽ.
Mô
biểu
đề
ra
một
cách
nhìn
giúp
thâu
tóm
được
các
vấn
đề
đang
nghiên
cứu,
trang
bị
cho
trí
óc
một
ý
niệm
cốt
lõi,
giúp
đưa
ra
được
cách
tìm
hiểu
và
lý
giải
vấn
đề.
Đó
là
một
cách
nhìn,
một
thứ
“ánh
sáng”
rọi
vào
trí
hiểu,
giúp
nhìn
nhận
vấn
đề
dựa
theo
một
cách
thức
đặc
thù
và
đứng
từ
một
quan
điểm
đặc
thù
nào
đó.
Đối
với
Thánh
mẫu
học,
mô
biểu
người
môn
đồ
hoàn
hảo
có
thể
giữ
trọn
được
chức
năng
ấy.
Nó
thống
nhất
được
toàn
bộ
công
cuộc
nghiên
cứu
về
Đức
Maria.
Nó
đề
ra
một
quan
điểm,
và
đóng
vai
trò
một
ý
niệm
cốt
lõi
dẫn
đường
cho
nỗ
lực
tìm
hiểu
về
hết
thảy
mọi
khía
cạnh
đa
dạng
của
mầu
nhiệm
là
chính
Đức
Maria.
Tuy
nhiên,
vai
trò
của
nó
còn
vượt
xa
hơn
thứ
công
cụ
khái
niệm.
Sức
mạnh
của
nó
xuất
phát
từ
“tính
cách
cụ
thể”
nó
trình
ra:
nó
giúp
mô
tả
được
nét
đặc
trưng
tiêu
biểu
thực
sự
của
Đức
Maria.
Nếu
một
mô
biểu
trong
địa
hạt
khoa
học
phải
là
một
“thành
tựu
cụ
thể,”
thì
cũng
thế,
một
mô
biểu
trong
lãnh
vực
thần
học
phải
là
một
dữ
kiện
“cụ
thể”
về
đức
tin.
Đức
Maria
đích
thực
là
một
môn
đồ;
Kinh
Thánh
làm
chứng
về
điều
đó.
Bởi
thế,
có
thể
dùng
nét
đặc
trưng
tiêu
biểu
này
làm
ý
niệm
cốt
lõi
để
tiếp
tục
đào
sâu
công
cuộc
nghiên
cứu
về
các
phẩm
tính
và
đặc
ân
của
Đức
Maria.
Một
mô
biểu
chẳng
phải
là
một
nguyên
tắc
nền
tảng.
Thánh
Mẫu
học
không
hình
thành
dựa
trên
nền
móng
các
nguyên
tắc;
nó
cũng
không
chào
đời
từ
một
hạt
mầm
ý
tưởng
nào
đó.
Đúng
hơn,
Thánh
Mẫu
học
nẩy
sinh
và
phát
triển
qua
một
quá
trình
suy
tư
về
các
dữ
kiện
của
mạc
khải:
một
công
cuộc
suy
tư
được
tiến
hành
dưới
sự
hướng
dẫn
của
ý
niệm
cốt
lõi,
tức
là
mô
biểu,
mà
không
nhất
thiết
phải
tuân
theo
một
trật
tự
hợp
lý
đặc
thù
nào.
Một
khi
các
khía
cạnh
khác
nhau
trong
mầu
nhiệm
về
Đức
Maria
đã
được
nhìn
nhận
và
xem
xét
dưới
ánh
sáng
của
mô
biểu,
thì
trật
tự
và
quá
trình
hệ
thống
hóa
sẽ
tự
động
xuất
hiện.
Cuộc
nghiên
cứu
dựa
vào
một
mô
biểu
cũng
chẳng
phải
là
một
hình
thức
nghiên
cứu
có
tính
cách
giản
lược
hóa.
Các
nhân
đức
và
đặc
ân
của
Đức
Maria
không
thể
nào
bị
giới
hạn
thu
gọn
vào
các
hình
thức
khác
nhau
của
cương
vị
môn
đồ –
như
bài
viết
đã
nỗ
lực
trình
bày
sáng
tỏ.
Địa
vị
làm
mẹ
Đức
Kitô,
và
làm
mẹ
Giáo
hội
của
Đức
Maria
không
thuần
túy
chỉ
là
những
dạng
thức
biểu
hiện
của
cương
vị
môn
đồ
nơi
ngài;
địa
vị
song
đôi
ấy
phải
được
hiểu
như
là
những
đặc
ân
và
vai
trò
cao
cả
nhất
của
Đức
Maria
trong
kế
hoạch
cứu
độ,
nhưng
cách
hiểu
về
nó
chắc
chắn
sẽ
được
làm
cho
phong
phú
thêm
hơn
nhờ
việc
biết
lấy
nhãn
quan
về
môn
đồ
tính
mà
xem
xét.
Cũng
hệt
như
thế
đối
với
tình
trạng
đồng
trinh
của
Đức
Maria:
hai
yếu
tố
liên
quan
đến
cương
vị
môn
đồ
như
đọc
thấy
trong
các
sách
Tin
Mừng
–
hành
động
sáng
kiến
của
Thiên
Chúa
và
hành
động
đáp
trả
của
con
người
– đã
đưa
ra
được
một
điểm
mấu
chốt
cho
cuộc
khảo
cứu
đào
sâu
ý
nghĩa
về
tình
trạng
đồng
trinh
của
Đức
Maria.
Vả
lại,
như
đã
thấy
trên
đây,
cách
hiểu
về
cả
địa
vị
làm
mẹ
của
Đức
Maria
lẫn
tình
trạng
đồng
trinh
của
ngài,
dưới
ánh
sáng
của
cương
vị
môn
đồ,
cũng
giúp
củng
cố
cách
hiểu
về
tư
cách
cần
phải
có
của
một
người
môn
đồ.
Như
thế,
nếu
tác
giả
bài
viết
chọn
cương
vị
môn
đồ
của
Đức
Maria
làm
mô
biểu
cho
cuộc
khảo
cứu
của
mình,
thì
việc
đó
không
hề
làm
suy
giảm
đi
chút
nào
phẩm
giá
của
Đức
Maria,
và
cũng
chẳng
làm
mất
đi
khỏi
ngài
những
đặc
ân
khác
ngài
có;
ngược
lại,
mô
biểu
về
cương
vị
môn
đồ
có
thể
góp
phần
củng
cố
và
làm
cho
trở
nên
phong
phú
hơn,
cung
cách
hiểu
và
nhận
thức
về
Đức
Maria.
Đức
Maria
vẫn
luôn
là
Mẹ
Thiên
Chúa
và
là
Đức
Nữ
trinh.
Đó
là
những
viên
đá
quý
tỏa
ánh
lấp
lánh
rạng
ngời
nhất
trên
chiếc
vương
miện
các
nhân
đức
của
ngài;
cương
vị
môn
đồ
của
ngài
chính
là
chiếc
vòng
vàng
xâu
kết
các
nhân
đức
ấy
lại
với
nhau,
và
là
ánh
quang
rạng
ngời
chiếu
tỏa
lấp
lánh
từ
các
nhân
đức
ấy.
Tuấn
Anh
phiên
dịch
Linh mục dòng Đức Maria (S.M.), tác giả bài viết bằng tiếng Anh, tựa đề “Mary the Perfect Disciple: A Paradigm for Mariology,” đăng trong tạp chí Theological Studies 41/3 (1980) 461-504, là giáo sư tại Mount St. Mary’s Seminary, Hawke’s Bay, New Zealand.
Để tìm hiểu các cuộc tranh luận xoay quanh vấn đề này, xin xem thiên tiểu luận của C. Vollert, S.J., tựa đề “The Fundamental Principle of Mariology,” trong J. B. Carol, ed., Mariology 2 (Milwaukee, 1957) 30-87.
Xin xem, chẳng hạn, G. M. Roschini, O.S.M., Mariology 1 (2nd ed.; Rome, 1947) 337; N. García Garcés, C.M.F., Mater coredemptrix (Turin-Rome, 1940) 121-23.
Xin xem, chẳng hạn, J. Bittremieux, “De principio supremo Mariologiae,” Ephemerides theologicae Lovanienses 8 (1931) 250-51; C. Dillenschneider, La mariologie de St. Alphonse de Liguori (Fribourg, 1934) 56.
Chẳng hạn, S. Alameda, O.S.B., “El primer principio mariológico según los Padres,” Estudios Marianos 3 (1944) 163-86; L. P. Everett, C.Ss.R, “The Nexus between Mary’s Co-redemptive Role and Her Other Prerogatives,” Marian Studies 2 (1951) 129-52.
O. Semmelroth, S.J., Urbild der Kirche (Würzburg, 1950) 37tt.
A. Müller, “Um die Grundlagen der Mariologie,” Divus Thomas 29 (1951) 389. Xem bài điểm duyệt, bằng tiếng Anh, về bài viết này, tựa đề “The Basic Principles of Mariology,” trong tạp chí Theology Digest 1 (1953) 139-44.
K. Rahner, S.J., “Le principe fondamental de la théologie mariale,” RSR 42 (1954) 481-522. Rahner cũng đã đưa quan điểm này vào trong nhiều tác phẩm khác: cách riêng, xin xem “The Immaculate Conception” và “The Interpretation of the Dogma of the Assumption,” trong Theological Investigation 1 (London, 1961) 201-27.
Thomas S. Kuhn, The Structure of Scientific Revolutions (2nd ed.; Chicago, 1970) 1-2.
Cách riêng, cuốn sách của Kuhn đóng giữ một vai trò hết sức quan trọng, xét vì nó vạch rõ cho thấy lề lối quan niệm sai lạc như trên về bản chất của khoa học. Dù không phải hết thảy mọi kết luận ông đưa ra đều hoàn toàn tránh khỏi những ý kiến phê bình, nhưng cũng phải thấy là quan điểm ông đề ra đã được đón nhận rộng rãi, đặc biệt là luận điểm cho rằng các cuộc nghiên cứu về lịch sử và về đà tiến phát của các ngành khoa học khác nhau, đã chứng thực cho thấy tính chất sai lầm của dạng quan niệm sặc mùi “giáo khoa” về khoa học.
Trong thiên tiểu luận có tính cách vừa tán thành vừa phê bình của mình, tác giả Margaret Masterman đã liệt kê ra hai mươi mốt ý nghĩa khác nhau xoay quanh thuật ngữ “mô biểu” mà Kuhn dùng đến trong cuốn sách của ông; xin xem “The Nature of a Paradigm,” trong Criticism and Growth of Knowledge, do I. Lakatos và A. Musgrave biên soạn (Cambridge Univ., 1970) 61-65.
T. S. Kuhn, “Reflections on My Critics,” ibid. 234, 271-73; “Second Thoughts on Paradigms,” trong The Structure of Scientific Revolution, do F. Suppe biên tập (Urbana, Ill., 1970).
Phần “Bổ túc,” trong ấn bản lần thứ hai của cuốn Scientific Revolutions 175; cũng xem Masterman, “The Nature of a Paradigm,” 66-68.
“Reflections on My Critics,” 267; Scientific Revolutions 82.
Scientific Revolutions 175.
Ibid. 187; “Reflections on my Critics” 272.
Scientific Revolutions 10.
Trên thực tế, lịch sử phát triển của mô hình [nguyên tử] này là khá phức tạp: dựa vào mô hình ban đầu do Rutherford đề ra, Bohr đã tìm cách loại bỏ những gì cho thấy tính cách xung đột của nó với lý thuyết điện từ của Maxwell-Lorentz; và với việc tiến hành công tác này, ông đã khơi mào được một cuộc cách mạng trong lãnh vực vật lý học nguyên tử; xin xem bài viết của tác giả Imre Lakatos, “Falsification and the Methodology of Scientific Research Programmes,” trong Criticism and the Growth of Knowledge 140-54; Kuhn, “Reflections on my Critics” 256-57.
Scientific Revolutions 11-12.
Masterman, “Nature of a Paradigm,” 66; Kuhn, “Reflections on My Critics,” 271.
Masterman, “Nature of a paradigm” 76-79.
Kuhn, Scientific Revolutions 149-50.
Kuhn, “Reflections on My Critics” 274; cũng xem toàn bộ phần bàn luận về điểm này, 272-77; Scientific Revolutions 187-91.
Trong cuốn tự truyện của mình, Max Planck đã đưa ra một nhận định chua chát như sau: “một chân lý khoa học mới không giành được thắng lợi nhờ vào việc nó tạo được sức thuyết phục đối với những người chống đối nó, giúp những người này hiểu ra được ý nghĩa của nó, nhưng, trái lại, nhờ vào việc những người chống đối nó cuối cùng cũng chết đi, và một thế hệ mới xuất hiện lại trở nên quen thuộc với nó” (Scientific Autobiography and Other Papers [New York, 1949] 33-34).
Để tìm hiểu sâu hơn về các mô biểu, xin đọc thêm các tác phẩm của Kuhn (xem các chú thích số 10 và 13 ở trên) và thiên tiểu luận của Masterman (xem chú thích số 12).
Hilda Graef, Mary: A History of Doctrine and Devotion (London, 1963) 50.
R. Laurentin, “Marie et l’anthropologie chrétienne de la femme,” NRT 89 (1967) 489, 513.
Avery Dulles, S.J., Models of the Church (New York, 1974) 22.
Thực ra, Dulles có bàn đến khái niệm về mô biểu của Kuhn, và cũng đã sử dụng nhiều lần khái niệm này trong cả cuốn sách của mình (từ trang 26-30 và ở nhiều chỗ khác nữa). Tuy nhiên, Dulles không giải thích tỉ mỉ về khái niệm này, và có vẻ như chưa khai thác được tính cách phong phú tiềm tàng của nó trong phần bàn luận về các mô hình giáo hội học khác nhau của mình.
Xem chẳng hạn, Otto Semmelroth, S.J., Mary, Archetype of the Church (New York, 1963); Herbert Richardson, “Mother of the Church,” The Current (Harvard) 5 (1965) 48-81 (được tóm tắt sơ lược trong TD 14 [1966] 60).
Xem chẳng hạn, R. Laurentin, “Foi et mythe en théologie mariale,” NRT 89 (1967) 281-307; “Marie et l’anthropologie chrétienne de la femme,” ibid. 485-515.
Carl G. Jung, trong The Collected Works of C. G. Jung 6 (London, 1971) 106.
Laurentin, “Foi et mythe” 294; cũng xem Thomas O’Meara, O.P., “Marian Theology and the Problem of Myth,” Marian Studies 15 (1964) 132-40.
Đặc biệt, xin xem Raymond E. Brown, S.S., “The Meaning of Modern New Testament Studies for an Ecumenical Understanding of Mary,” trong cuốn sách có tựa đề Biblical Reflections on Crises Facing the Church (London, 1975) của tác giả; “Roles of Women in the Fourth Gospels,” TS 36 (1975) 688-99, đặc biệt là các trang 695-99; The Birth of the Messiah (New York, 1977) 316-19; cũng xem John de Satgé, Mary and the Christian Gospel (London, 1976) 53-81; R. E. Brown, K. P. Donfried, J. A. Fitzmyer, và J. Reumann, Mary in the New Testament (Philadelphia, 1978).
Brown, Birth of the Messiah 32.
Xem, chẳng hạn, C. H. Dodd, Historical Tradition in the Fourth Gospel (Cambridge Univ., 1963); A. M. Hunter, According to John (London, 1968).
Cũng xem câu song song, trong Mc 10:29: Đức Giêsu hứa ban phần thưởng cho những ai bỏ “nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái, hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng.”
Brown, “Understanding Mary” 90.
Các câu Mc 6:3 và Mt 13:55 cũng có nhắc đến Đức Maria với tư cách là mẹ Đức Giêsu, nhưng điều này không giúp được gì cho vấn đề đang bàn.
“Không nhất thiết phải coi bức phác họa hết sức mờ nhạt về Đức Maria trong Tin Mừng Máccô như là bức chân dung “chân thực” về ngài, và như là hình ảnh tương phản với một Đức Maria vâng phục và tin tưởng trong Tin Mừng Luca” (Brown và nhóm tác giả, Mary in the NT 284).
Brown, “Understanding Mary,” 89-90; Birth of the Messiah 317.
Brown cũng đưa ra một nhận định tương tự: “Tôi cho rằng... bức chân dung về Đức Maria trong 1:38, được phác họa dựa theo trình thuật Luca về Đức Maria trong đời hoạt động của Đức Giêsu” (Birth of the Messiah 316). Tuy nhiên, biến cố duy nhất trong sứ vụ của Đức Giêsu – được Brown kể đến nhằm trình ra một bức chân dung về Đức Maria – mà Luca có thể đã lấy để đưa vào đoạn trình thuật về biến cố Truyền tin, chính là biến cố bài viết này đang thảo luận, cũng là biến cố được cả hai tác giả Tin mừng Nhất lãm kia thuật lại. Tuy nhiên, Brown thừa nhận là Luca đã triệt để bổ sung và sắp xếp lại biến cố ấy cho phù hợp với cách hiểu của ngài về Đức Maria (ibid. 317-18). Vậy thì, do đâu mà Luca có được cách hiểu như kia? Tác giả bài viết này cho rằng chỉ có ba khả năng thực tế: hoặc Luca đã đích thân biết đến Đức Maria; hoặc ngài dựa vào truyền thống đã đặt Đức Maria vào cộng đoàn Giáo hội sơ khai; hoặc cũng có thể có một truyền thống nào đó khác về Đức Maria, dù không thấy xuất hiện rõ ràng trong Tin Mừng nhưng lại được phản ánh qua các biến cố có liên hệ đến Đức Maria mà Luca thuật lại trong cuốn Tin Mừng của mình.
Brown, “Understanding Mary,” 90-91; Birth of the Messiah, 318.
Brown, “Understanding Mary,” tr. 93.
Ibid.; Birth of the Messiah 341-44.
Tinh thần môn đồ đòi hỏi một thái độ triệt để dấn thân cho sự sống; có thể đọc thấy nhiều thí dụ về điều này trong các sách Tin Mừng, chẳng hạn: Mt 8: 19-22; 10:37-39; 16:24-25; 19:29; Mc 8:34-35; Lc 9:23-24; 14:26-27; Ga 12: 25-26.
Brown, “Understanding Mary,” 95, số 88; Birth of the Messiah 429-31.
Sermo 215, 4 (PL 38, 1074).
Ibid. Xin cũng xem “Credidit Maria, et in ea quod credidit factum est” (ibid.).
Sermo 233, 3, 4 (PL 38, 1114). Đây là nguyên một đoạn bài giảng ấy: “Nos per concupiscentiam carnis, ille [Christus] autem non per ipsam. Maria enim virgo sine virili amplexu, sine concupiscentiae aestu; quoniam ne pateretur hunc aestum, ideo ei dictum est, Spiritus Sanctus superveniet in te, et virtus Altissimi obumbrabit tibi. Virgo ergo Maria non concubuit et concepit, sed credidit et concepit.”
Xin cũng xem “Propter cujus sanctam in virginis utero conceptionem, non concupiscentia carnis urente factam, sed fidei chariatate fervente, ideo dicitur natus de Spiritu sancto et virgine Maria” (Sermo, 214, 6; PL 38, 1069).
“... ở đây, cần phân biệt cho rõ giữa một bên là thực tại cơ bản của chương trình cứu độ được áp dụng cho Đức Maria, với bên kia là quan điểm cơ bản của một luận thuyết về Thánh Mẫu học. Tuy thực tại cơ bản về Đức Maria cần phải được phản ánh ở trong ý niệm cơ bản của luận thuyết Thánh mẫu học, nhưng ý niệm ấy không nhất thiết phải có tính cách đồng nhất hoàn toàn với thực tại kia. Do bởi chỗ đứng của Đức Maria ở trong toàn bộ kế hoạch cứu độ, ý niệm cơ bản ấy có thể đi trước, ít nhất là so với, thực tại cơ bản kia và có thể trở thành lý thuyết giả định của thực tại ấy” (M. Schmaus, “Mariology,” Sacramentum mundi 3 [London, 1968] 384). Tuy trong nhận định vừa rồi, tác giả Schmaus đề cập đến nguyên tắc nền tảng, nhưng những gì ông trình bày cũng có thể áp dụng được cho trường hợp mô biểu.
Xem chẳng hạn, In 1 Phys. Lect. 1, số 7; Tổng luận Thần học 1, 1, 2; 1, 85, 3, ad 4.
“Materna propinquitas nihil Mariae profuisset, nisi felicius Christum corde quam carne gestasset” (De sancta virginitate 3; PL 40, 398).
R. Brown, “Roles of Women” 689-90. Tuy nhiên, đang có một cuộc bàn cãi mới về thời gian chào đời của cuốn Tin Mừng Gioan: xem J. A. T. Robinson, Redating the New Testament (London, 1976) 254-311.
Brown, “Roles of Women” 690.
“Understanding Mary” 100.
Ibid. 101. Xin cũng xem một nhận định vắn gọn hơn – và có lẽ có tính cách thuyết phục hơn – của tác giả, trong “Roles of Women” 695-98.
Để theo dõi một nhận định phê bình nhằm vào phương pháp luận của Brown, xin xem R. Laurentin, “Bulletin sur Marie Mère du Seigneur,” RSPT 60 (1976) 313-14.
Ibid. 97-101. Brown đã đúc kết lại giả thuyết này dựa theo các tác phẩm: The Gospel of John (London, 1972) 126 -27, của Barnabas Lindars, và The Gospel of Signs (Cambridge Univ., 1970) của R. T. Fortna.
A. Vanhoye, “Interrogation johannique et exégèse de Cana (Jn 2, 4),” Biblica 55 (1974) 157-67.
R. Brown, The Gospel according to John 1 (Anchor Bible 29; New York, 1966) 99; “Understanding Mary” 97, số 3.
Vanhoye, “Interrogation johannique” 161-62. Để theo dõi cuộc thảo luận có tính học thuật về “giờ” của Đức Giêsu, xin xem R. Schnackenburg, The Gospel according to St. John 1 (London, 1968) 328-31; Brown, John 99-100, và Phụ lục I (11) 517-18; G. Ferraro, L’“ora” di Cristo nel Quarto Vangelo (Rome, 1974).
Vanhoye, “Interrogation johannique” 164.
Ibid. 164-65. “Thái độ kiên quyết của Đức Maria khi gặp phải lời từ chối là một vấn đề gây khó hiểu” đối với Brown (John 102) chỉ trong trường hợp Đức Giêsu thực sự từ chối mẹ mình. Nhưng vấn đề gây khó hiểu đó không còn nữa trong cách giải thích đang bàn đến ở đây, bởi vì thực ra, chẳng có lời từ chối nào cả.
Vanhoye, “Interrogation johannique” 164.
Xem chẳng hạn, Mt 7:7-11; 18:19; Mc 11:24; Lc 11:9-13; 18:1-8. Để có một thí dụ cụ thể về việc các môn đồ đón nhận vào lòng mình những lời của Đức Giêsu và đã nhận được những gì họ hỏi xin; xin xem Cv 3:1-16; 4:10.
Vanhoye, “Interrogation johannique” 166.
Để nắm được những quan điểm khác nhau về sử tính của tình tiết trình thuật này, xin xem, chẳng hạn, Brown, John 904-7, 922-27; M. E. Boismard và A. Lamouille, L’Evangile de Jean, Synopse 3 (Paris, 1977).
Brown, John 1, lxxxvii-cii; J. McHugh, The Mother of Jesus in the New Testament (London, 1975) 351-60. Để theo dõi một cuộc nghiên cứu thú vị liên quan đến nhận định đề xuất việc đồng hóa nhân vật này với một nhân vật khá xa lạ khác, tên là Gioan, là một tư tế ở Giêrusalem và là người đã được Đức Giêsu biến đổi, xin xem J. Colson, L’Enigme du disciple que Jésus aimait (Paris, 1969).
D. M. Stanley, S.J., A Modern Scriptural Approach to the Spiritual Exercises (Chicago, 1987) 105.
Xem Ga 7:37-39; cũng xem đoạn đối thoại với người phụ nữ xứ Samaria, trong Ga 4:5-16.
F. M. Braun, O.P., Mother of God’s People (New York, 1967) 113-17; R. Laurentin, “Esprit Saint et théologie mariale,” NRT 89 (1967) 37.
Braun, Mother of God’s People 117-19. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng Braun cũng nêu lên những điểm dị biệt nhau giữa các trình thuật của Gioan và Luca về việc trao ban Chúa Thánh Thần.
Alexis Kniazeff, trong “Mater, Advocata, Testis,” Maison-Dieu 121 (1975) 108-13, đã trưng ra bằng chứng nói lên những mối nghi ngại bên phía Giáo hội Chính thống về tước hiệu “Mẹ Giáo hội.” Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã giải thích kỹ lưỡng về việc tước hiệu ấy mang ý nghĩa gì cũng như không mang ý nghĩa gì; xin xem diễn từ của ngài trong buổi bế mạc phiên họp thứ ba của Công đồng Vaticanô II (L’Oss. Rom., ngày 22 tháng 11, 1964); cũng xem bài nói chuyện ngắn của ngài vào ngày 2 tháng 2 năm 1965 (L’Oss. Rom., ngày 3 tháng 2, 1965).
Ibid. 1, 107; cũng xem McHugh, Mother of Jesus 356-60.
F. Montagnini, “Le ‘signe’ d’Apocalypse 12 à la lumière de la christologie du Nouveau Testament,” NRT 89 (1967) 401-16; B. J. Le Frois, The Woman Clothed with the Sun (Rome, 1965); Brown, John 1, 108; McHugh, Mother of Jesus 404-8.
Brown, John 1, 108; Montagnini, “Le ‘signe’ d’Apocalypse 12” 409, 414-15; R. E. Murphy, O. Carm., “An Allusion to Mary in the Apocalypse,” TS 10 (1949) 565-73.
Để tìm hiểu về một truyền thống phong phú ẩn chứa đằng sau tước hiệu này, xin xem J. C. Plumpe, Mater ecclesia (Washington, D.C., 1944). Về mối quan hệ giữa Đức Maria với Giáo hội, xin xem Y. Congar, O.P., “Marie et l’église dans la pensée patristique,” RSPT 38 (1954) 3-38; H. Lennerz, “Maria-ecclesia,” Greg 35 (1954) 90-98.
Có thể có một chút hồ nghi, nhưng không đáng kể, về việc nhân chứng ấy có thực là người Môn đồ Đức Giêsu yêu mến hay không, bởi ngài là “người đã xem thấy việc này”; trong khung cảnh trình thuật này, không thấy có một môn đồ nam nào khác được nhắc đến. Vả lại, trong một văn đoạn tương tự công bố về tính cách xác thực của lời chứng (x. Ga 21:24), nhân chứng ấy rõ ràng được xác nhận như là “người môn đồ Đức Giêsu yêu mến.”
Để có cái nhìn đầy đủ về giáo huấn của các Giáo phụ liên quan đến tính cách đồng trinh của Đức Maria, xin xem Walter J. Burghardt, S.J., “Mary in Western Patristic Thought,” trong Carol, Mariology 1 (Milwaukee, 1955) 117-32; và “Mary in Eastern Patristic Thought,” ibid. 2, 100-116; Philip Donnelly, “The Perpetual Virginity of the Mother of God,” tiết đoạn 2, ibid. 264-96.
Brown và nhóm tác giả, Mary in the NT 294.
Xin xem thư mục tham khảo do René Laurentin trình ra, trong “Bulletin sur la Vierge Marie,” RSPT 62 (1978) 268-72; Eamon R. Carroll, O.Carm., “Theology on the Virgin Mary: 1966-1975,” TS 37 (1976) 265-72. Về chủ đề đặc biệt quan trọng này, xin xem Marian Studies 24 (1973); TS 33 (1972) 3-34; J. Galot, S.J., “La virginité de Marie et la naissance de Jésus,” NRT 82 (1960) 449-69; H-M. Diepen, “La virginité de Marie ‘signe du Verbe naissant,’” RevThom 60 (1960) 425-28; J. Galot, S.J., “La conception virginale du Christ,” Greg 49 (1968) 637-66; R. Brown, The Virginal Conception and Bodily Resurrection of Jesus (Paramus, N.J., 1973). Về nguồn gốc xuất hiện có thể coi là hợp lý của các trình thuật thời thơ ấu, xin xem P. Grelot, “La naissance d’Isaac et celle de Jesus: Sur une interprétation ‘mythologique’ de la conception virginale,” NRT 94 (1972) 462-87, 561-85, và các nhận định bình luận của A. M. Dubarle, O.P., “La conception virginale et la citation d’Is. VII, 14 dans l’évangile de Matthieu,” RB 85 (1978) 373-78.
Có một quan điểm đang dần trở nên thịnh hành giữa giới học giả, cho rằng câu Ga 1:13 ám chỉ đến việc thụ thai đồng trinh. Để tham khảo cách giải thích về câu Kinh Thánh này nói riêng, và từ đó thấy ra được lối biểu đạt ám chỉ đến việc thụ thai đồng trinh Đức Kitô, xin xem J. Galot, S.J., Etre né de Dieu, Jean 1.13 (Rome, 1969); M. E. Boismard và A. Lamouille, L’Evangile de Jean, Synopse 3 (Paris, 1977) 76; I. de la Potterie, De matre Jesu in quarto evangelio (Rome, 1976 [ad usum auditorium tantum]); McHugh, Mother of Jesus 255-65. Để theo dõi lập trường chống lại cách giải thích như được đề xuất, xem Brown, John 1, 11-12; Birth of the Messiah, App. IV, 520-21; Schnackenburg, Gospel of John 1, 264-65.
Dubarle, “La conception virginale” 374; Brown và nhóm tác giả, Mary in the NT 117-19.
Xem Burghardt, “Mary in Western Patristic Thought” 118-19; Laurentin, “Foi et mythe” 292.
Xem chẳng hạn, Irenaeus, Adversus haereses 3, 26, 2.
J. P. Kenny, S.J., “Was Mary in Fact a Virgin?” Australasian Catholic Record 56 (1979) 297.
Justin, Apologia 1, 33; xem Burghardt, “Mary in Western Patristic Thought” 118.
“Nếu có ai đặt câu hỏi về lý do tại sao Đức Giêsu phải được thụ thai đồng trinh, thì câu trả lời không phải nằm ở chỗ giải thích cho rằng ắt đã có một kiểu đua tranh ngoài ý muốn giữa một người cha trần thế với người Cha trên trời của Lời tiên hữu. Câu trả lời cũng không nằm ở chỗ cho rằng việc thụ thai qua tiến trình hôn nhân ấy thì không xứng hợp với người Con từ đời đời của Thiên Chúa. Nguyên do của sự việc kia là hết sức rõ ràng, minh bạch: vì biến cố thụ thai và sinh hạ trong tình trạng đồng trinh ấy tỏ lộ cho thấy quyền năng sáng tạo của Thiên Chúa và sáng kiến hành động độc nhất vô nhị của Người trong công trình cứu độ. Nguyên do sự việc ấy không phải do bởi hành động từ phía con người mà ra” (Schmaus, “Mariology,” Sacramentum mundi 3, 377).
Đức Phaolô VI, Marialis cultus 26.
L. M. Grignion de Montfort, Treatise on the True Devotion 21.
Laurentin, “Esprit Saint et théologie mariale,” 26-42.
Kenny, “Was Mary in Fact a Virgin?” 298.
Laurentin, “Foi et mythe” 292.
K. Rahner, S.J., “Virginitas in partu,” Theological Investigations 4 (London, 1966) 137, 151. Thiên tiểu luận này trưng ra những nhận định có giá trị về điểm giáo lý này của các nhân chứng giáo phụ. Xin cũng xem J. C. Plumpe, “Some Little-Known Early Witnesses to Mary’s Virginitas in partu,” TS 9 (1948) 567-77; A. C. Clarke, “The Virgin Birth: A Theological Reappraisal,” TS 34 (1973) 576-93.
Laurentin, “Marie et l’anthropologie chrétienne” 493.
Ibid. 492; Laurentin, “Foi et mythe” 303-4
J. Galot, S.J., Mary in the Gospel (Westminster, Md., 1965) 42-45; “Vierge entre les vierges,” NRT 79 (1957) 463-67.
Nói như thế, tác giả bài viết này không hề có ý muốn bàn về việc Đức Maria đã có lời khấn giữ mình đồng trinh trước đó hay không. Tác giả chỉ đơn thuần muốn lưu ý rằng, vào thời điểm diễn ra biến cố Truyền tin, Đức Maria là một trinh nữ, và đó là một tình trạng mà hẳn là ngài đã tự ý đón nhận trước đó.
Galot, Mary in the Gospel 44: cũng xem Brown (và nhóm tác giả), Mary in the NT 141-43, 285.
G. Graystone, S.M., trong Virgin of All Virgins: The Interpretation of Luke 1.34 (Rome, 1968) 148-51, đã diễn giải chi tiết về kiểu đối sánh này, kiểu đối sánh mà các Giáo phụ đã từng nhắc đến (chẳng hạn, thánh Âugutinô, De civ. Dei 16, 24, 2; thánh Ambrôxiô, De Abraham 2, 9, 61). Xin cũng xem A. Feuillet, Jésus et sa mère d’après les récits lucaniens de l’enfance et d’après saint Jean: Le rôle de la Vierge Marie dans l’histoire du salut et la place de la femme dans l’église (Paris, 1974).
J. Massyngberde Ford, Revelation (AB 38; New York, 1975) 241-46.
Paradiso, Đoản khúc 33, 1.
De sancta virginitate 2 (PL 40, 397). Cũng xem thêm đoạn sau, “Cả những kẻ đồng trinh tận hiến cho Thiên Chúa... cũng không tách mình ra khỏi một cuộc hôn nhân. Cuộc hôn nhân của họ chính là cuộc hôn nhân của toàn thể Giáo hội, trong đó chàng rể là chính Đức Kitô” (Tract. in Joan. 9, 2).
Brown, Birth of the Messiah 318, số 66.
“Bulletin sur la Vierge Marie,” 2, RSPT 62 (1978) 305-7.
Thư Mục vụ của các Giám mục Hoa kỳ, Behold Your Mother: Woman of Faith (ngày 21.11.1973) đoạn 142.