|
CHƯƠNG III ThẦn HỌc TruyỀn Giáo theo Vaticanô II
Thần học công
giáo về tác vụ truyền giáo ngày nay khởi phát
từ Vaticanô II, dù không chỉ giới hạn ở trong
tầm ảnh hưởng tác động duy nhất của công đồng.
Hai văn kiện công đồng chứa đựng giáo lý phong
phú và đầy đủ nhất về chủ đề này là hiến
chế tín lý về Giáo hội
Ánh Sáng Muôn Dân và sắc lệnh về
Hoạt Ðộng Truyền Giáo của Giáo hội Ðến Với
Muôn Dân (Lumen Gentium vaø Ad
Gentes); các tài liệu khác của công đồng cũng
nhất trí và mạnh mẽ góp phần cho đà khai triển
của thần học về truyền giáo.
I.
GỐc
rỄ tam VỊ cỦa dỰ án truyỀn giáo 1.
Kế Hoạch Cứu Ðộ Kế hoạch cứu
độ điều hợp mọi hoạt động của Thiên Chúa,
diễn ra ở trong lịch sử. Nhưng giữa các hoạt
động có tính cách lịch sử ấy, hoạt động truyền
giáo là hoạt động số một: “Hoạt động truyền
giáo không gì khác hơn, cũng không gì kém hơn là
hàng động biểu lộ (epiphania) hoặc bày tỏ ý định của Thiên Chúa cùng
hoàn tất ý định ấy nơi dương thế, ở trong lịch
sử thế trần...” (TG 9b; x. 7c). Ý định của Thiên
Chúa, ý định “quy tụ mọi sự về cùng một Thủ
lãnh duy nhất” (theo thánh Irênêô), đang được
thể hiện qua công tác truyền giáo;
“bởi vậy, mọi
giáo dân đều có nhiệm vụ cao cả này là phải
làm sao để ý định cứu độ của Thiên Chúa đạt
đến được ngày càng thiết thực hơn, với hết
mọi người ở khắp mọi nơi và trong mọi thời
đại” (GH 33d). Như thế, xuất
hiện rõ tính chất thống nhất của nhiệm cục: sứ
mệnh của Ðức Kitô, của Giáo hội và của mỗi
tạo vật đều hướng về cùng một mục đích chung;
và, hơn nữa, chính nhờ hoạt động truyền giáo mà
lịch sử đạt tới được mục đích ấy. Mục đích
cuối cùng là cứu rỗi mọi người qua Ðức Kitô;
vì thế, Ngài phải gặp gỡ với mỗi người. Kế
hoạch mang tính chất lịch sử, nghĩa là tiến hành
theo đà tiệm tiến (x. GH 9, TG 6b, LM 22c, v.v.). Mặt
khác, Thiên Chúa tự do chọn lựa thời đại, nơi
chốn, thừa tác viên, v.v. để thực hiện kế
hoạch, không
nhất thiết một mình, song là muốn
nhờ đến sự tự do hợp tác của con người. Kế
hoạch cũng mang tính chất xã hội, và vì thế, Thiên
Chúa muốn tụ hợp mọi người được cứu rỗi
thành một dân, một hội thánh (x. GH 2, 9a, TG 2, MV 32a,
vv). Nhiệm cục được hiểu như là ý định của
Thiên Chúa Cha, ý định sinh ra trong thời gian, thân
thể nhiệm mầu của Con Người. Vì kế hoạch Thiên
Chúa bao gồm mọi khía cạnh trong sứ mạng con người
(x.
MV 11a), xét theo tư thế
là một cá nhân cũng như theo cương vị là một
nhân vật lịch sử (x. MV 34, 57b), nên con người chỉ
có thể thành toàn được chính mình trong Giáo hội.
Cuối cùng, kế hoạch ấy cũng mang tính chất cánh
chung, bởi sẽ hoàn toàn thành tựu khi “mọi
người công chính... được tập họp trong Giáo hội
phổ quát bên Chúa Cha” (GH 2).
2.
Suối Tình
Thương Của
Chúa Cha Nguồn gốc
tuyệt đối của mọi sự là Chúa Cha. Cụ thể hơn,
“ý định [cứu độ] tuôn trào từ ‘suối tình
yêu’ tức từ lòng thương của Thiên Chúa Cha, vì
chính Người là Nguyên lý vô nguyên lý, bởi
Người Chúa Con được sinh ra, và cũng bởi Người
và nhờ Chúa Con mà phát xuất Chúa Thánh Thần; vì
quá nhân từ xót thương, Người tự ý dựng nên
chúng ta...” (TG 2b). Như thế có nghĩa là đời sống
Tam Vị lộ hiện ra trong lịch sử cứu độ, hay nói
cách khác: năng động thần linh thúc đẩy hoạt
động đưa kế hoạch đến chỗ hoàn tất, tức tuyền
giáo. Kế hoạch ấy rốt cuộc là mầu nhiệm tình
thương đang tác đôïng giữa nhân loại (x. TG 13b, MV
22a, 45b, 93). Do bởi bản chất, tình yêu thì tự trao
ban chính mình. Là tình yêu tuyệt đối, Chúa Cha tự
trao ban chính mình cho “Thánh Tử chí ái” (Cl 1:13),
và cả hai – trong mối tương ái – hằng tự trao ban
chính mình cho Thần Khí; như vậy, theo Âugutino, Ba Ngôi
“là chủ thể, là đối tượng của tình yêu, và
là chính tình yêu.”
[1]
Nếu tình yêu là
nguyên tắc chuyển giao
thần tính trong Ba Ngôi
(nhiệm xuất), thì ắt cũng là nguyên tắc chuyển giao
sứ mệnh cho Ngôi Hai và Ngôi Ba, với mục đích là
chuyển giao thần tính cho con người (x. 2Pr 1:4; GH 40, HN
15a, MK 2). Dụng cụ (bí tích) của kế hoạch này là
Hội thánh “phát sinh từ tình yêu Chúa Cha vĩnh
cửu” (GS 40b), với nhiêïm vụ chủ chốt là “tỏ
bày và đồng thời thực hiện mầu nhiệm tình yêu
Thiên Chúa đối với con người” (MV 45a).
năng
đỘng ba ngôi trong lỊch
sỬ Do tự bản
tính,
năng động của mỗi
Ngôi là “đi ra”: Ngôi Cha “đi ra” nơi Ngôi Con,
Ngôi Cha và Ngôi Con “đi ra” nơi Thánh Thần,
rồi “hướng ngoại,”
Thiên Chúa
“đi ra” đến với
tạo vật (vũ trụ). Trong lịch sử cứu độ, Cha phái
gửi Con (Con “đi ra” thành con người Giêsu: x. Ga
16:27, 28; 17:8, v.v.), và cuối cùng Ðức Kitô phái
gửi Giáo hội (Giáo hội “đi ra” trong thế gian,
tức ra đi truyền giáo). Thế nên, đối với Giáo
hội, được sinh ra có nghĩa là được sai đi.
Vaticanô II nhận định rằng: “Tự bản chất, Giáo
hội lữ hành là Giáo hội truyền giáo, vì Giáo
hội bắt nguồn từ sứ mạng của Chúa Con và Chúa
Thánh Thần theo ý định của Thiên Chúa Cha” (TG 2a).
Như vậy năng động vĩnh cửu vô tận của Thiên
Chúa nhập thế (với giới hạn tất yếu) vào trong
Giáo hội. Vì nguồn là
Cha,
nên hoa quả cuối cùng không phải là sự vật, song
là con (nghĩa tử); và khi Thiên Chúa tự trao ban chính
mình trọn vẹn (cả Ba Ngôi), thì hoa quả không phải
là một cá nhân, song là một “gia đình” (Giáo
hội), “một dân tộc đoàn hợp nhờ sự hiệp
nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”
(GH 4). Như Ba Ngôi Thiên Chúa, Giáo hội là hiệp
thông mà cũng vừa là sứ mệnh; và cũng như sứ
mệnh của Ngôi Vị thần linh mang tính chất tự hủy (kenosis),
thì khi
trao ban chính mình cho
dân ngoại qua
hoạt động truyền giáo
(được sai đi), Giáo
hội cũng phải sống cuộc tự hủy (x. TG 5b).
a)
Sứ mệnh của
Chúa Con.– Sứ mệnh đầu tiên được trao phó
khi Chúa Cha ‘sai’ Con làm trung gian tạo hóa (x. Ga
1:3, Cl 1:16) hay là làm Ðấng Cứu độ (x. Ga 3:16; Gl
4:4-5, v.v.); đó là khởi thủy của mọi sứ mệnh
cứu độ trong lịch sử. Vì thế, Vaticanô II trình
bày về sứ mệnh của Ngôi Con trong các đoạn GH 3,
TG 3, MK 4. Ý định của
Thiên Chúa là thần hóa con người. Tạo dựng con
người theo hình ảnh mình là Thiên Chúa nắn đúc
nó nên giống Ngôi Con, hình ảnh hoàn hảo của
Người. Vì thế, khi Ngôi Lời nhập thể, một con
người đã được thần hóa hoàn toàn. Ngôi Lời
nhập thể lại được ‘sai’ làm trung gian cứu độ
duy nhất, qua đó Thiên Chúa và con người gặp gỡ
nhau và, nếu không gặp gỡ ở nơi Ngài, thì không
thể có một cuộc gặp gỡ nào khác cả. Ngôi Lời
được phái gửi một cách vô hình từ khởi
điểm của lịch sử, và
đã có mặt giữa
loài người như “hạt giống” cứu độ: “hạt
giống” ấy là nguyên nhân làm phát sinh “luật
lương tâm” (x. Rm 2:14-15) và hiện tượng tôn giáo
trong lịch sử. Thời xưa, Celsô (cuối thế kỷ 2) và
Porphiriô (cuối thế kỷ 3) đã từng bắt bẻ Kitô
giáo rằng nếu Ðức Kitô là Ðấng Cứu tinh duy
nhất, thì tại sao lại đến trễ như vậy, lại sinh ra
tại một nước nhỏ bé như thế? Các giáo phụ trả
lời cho thấy rằng Ngài không bao giờ vắng bóng (x.
Cv 17:27-8, Kh 13:8) và đã mang ơn cứu độ đến cho
bất cứ ai cần.
[2]
Tuy nhiên, con
đường của “Ngôi Lời vô danh” không phải là
đường lối chính Chúa Cha đã chọn. Nếu Lời đã
nhập thể và đã chịu đóng đinh trên thập giá,
thì chắc chắn không phải là để mọi sự cứ
tiếp tục trôi theo con đường cũ. “Ðể củng cố
hòa bình tức là mối hiệp thông với Thiên Chúa,
và để xây dựng một xã hội huynh đệ
giữa
loài người, giữa
những con người tội lỗi, Người đã
quyết định đi vào lịch sử loài người một cách
mới mẻ và dứt khoát bằng cách sai Chúa Con mặc
lấy xác phàm chúng ta, để chờ Chúa Con, Người
giải thoát nhân loại khỏi quyền lực Satan và để
trong Chúa Con, Người hòa giải thế gian với chính
mình” (TG 3a). Ðó chính là giáo lý của Phúc âm
(x. Ga 3:17) và của kinh Tin kính. Như thế nghĩa là “đường
lối nhập thể” là con đường
mới,
tức khác, và
dứt
khoát, tức các đường lối khác đều phải
(bắt đầu) ngừng, không còn hữu hiệu. Ðức Kitô
là trung gian cứu độ duy nhất (x. 1Tm 2:5), là Ađam
mới, tức là nguyên thủy của nhân loại mới (x. TG
3b),
kết hợp với toàn
thể nhân loại. Vả, nếu Ngôi Lời đã ôm trọn
hết mọi chiều kích, mọi điều kiện của thân phận
loài người (lịch sử, văn hóa, tôn giáo, v.v.),
thì đường lối cứu độ không còn có thể cứ
mãi ù lỳ như xưa. Vai trò trung gian bao gồm nhiều
khía cạnh: 1.
Trung gian mạc khải (x. MK 4): giúp cho loài người
biết Thiên Chúa như Người muốn được biết.
Không chỉ mang Tin mừng đến, Ngài chính là Tin
mừng, và – như Ðức Piô XII đã từng nhận định
– là “Thiên Chúa-Thừa sai.”
[3]
Ngài là “ánh
sáng muôn dân” (Is 49:6), “sáng soi cho mọi người
đến trong thế gian” (Ga 1:9), qua những lời Ngài
nói, bởi lời Ngài “là thần khí và là sự
sống” (Ga 6:63). 2.
Trung gian “triệu tập” dân mới: “Chúa Kitô,
Ðấng trung gian duy nhất, đã thiết lập Giáo hội
thánh thiện, một cộng đoàn tin, cậy, mến, như một
cơ cấu hữu hình giữa trần thế... qua Giáo hội
Ngài đổ tràn chân lý và ân sủng cho mọi người”
(GH 8a). Sứ vụ của Ðức Kitô là “quy tụ con cái
Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối” (Ga
11:53), có thế thì việc nhập thể mới nên hữu ích
cho mọi người. 3.
“Trung gian của Tân ước” (Dt 8:6, GH 9a) – sứ
mệnh tư tế (GH 41d) – Chúa Cha muốn Ngài là “Thầy,
Vua và là Tư tế của mọi người” (GH 13a); như thế
có nghĩa là mọi hình thức thờ phượng, hiến tế
đều phải qua và phải được hoàn tất nơi Ðức
Kitô. 4. Cuối cùng
là “trung gian cứu
chuộc”: Ðức Kitô đã giải phóng loài người
với máu của Ngài (x. 1Cr 6:20, Pr 1:18-9) và như thế,
đã quy tập cho mình một dân tộc (x. 1Pr 2:9-10, GH 9).
Ðiều Ngài đã hoàn tất cách nhiệm mầu, phải
trở thành hiện thực trong lịch sử: “Giáo hội
được khai sinh là để làm cho nước Chúa Kitô
rộng mở trên khắp hoàn cầu, hầu làm vinh danh
Thiên Chúa Cha, tức là làm cho mọi người tham dự
vào việc chuộc tội và cứu rỗi” (TÐ 2a). Nếu
Giáo hội không truyền giáo, công cuộc cứu độ
của Ðức Kitô sẽ bị bỏ dở. Như vậy, sứ
mệnh của Ngôi Con vẫn tiếp tục. Cũng như con
người Giêsu vẫn phải lớn lên sau lời
fiat
của Ðức Maria, thì cũng
thế, thân thể Ðức
Kitô còn phải tiếp tục mở rộng,
lớn mạnh trong lịch
sử loài người sau biến cố phục sinh.
b)
Sứ
mệnh của Thánh Thần.–
Trong Thiên Chúa, Thánh
Thần “hoàn tất” Ba Ngôi, thì cũng thế đối với
kế hoạch cứu độ. Vaticanô II dạy: “Ðể hoàn
thành việc đó [‘công bố và truyền bá cho tới
tận cùng trái đất’ công trình của Ðức Kitô],
Chúa Kitô đã sai Thánh Thần từ Chúa Cha đến để
Ngài thực hiện công trình cứu chuộc trong các tâm
hồn và thúc đẩy Giáo hội bành triển thêm mãi”
(TG 4a). Công đồng nêu lên tính chất độc nhất của
tác động mỗi Ngôi trong Tam Vị có đối với kế
hoạch cứu độ, và giây liên tục trong thời gian,
theo “trật tự” thần linh: Cha định dự án (x. TG
2), Con đến thực hiện (x. TG 3) và Thần Khí hoàn
tất (x. TG 4); cuối cùng, hai sứ mệnh ấy tiếp tục
kéo dài trong sứ mệnh của Giáo hội (x. TG 5). Như
vậy, việc truyền giáo mang đậm Tam Vị tính trong
khởi thủy, trong giai đoạn tiến hành và trong cùng
đích. Ngôi Ba
‘nhiệm xuất’ như ân
huệ tình yêu; bởi
thế, hoa quả sinh nên
trong tạo vật cũng mang tính chất yêu mến. Là Thần
Khí Tạo hóa
(Creator Spiritus), Ngài đã dựng nên trong tạo vật
mở lòng đón nhận Ngài, một khả năng yêu mến
với cứu cánh tính
(teleology)
hướng tới mục đích của kế hoạch Thiên Chúa.
Ðà hướng ấy là năng động truyền giáo trong
Giáo hội. Thần Khí đã hoạt động trước kia (trong
Cựu Ước) và đang hoạt động ngoài ranh giới
Kitô giáo; chính Thần Khí đảm bảo cho sự hiệp
nhất của hai giao ước và của hết mọi giai đoạn
trong kế hoạch. Trong Cựu Ước, khi phái gửi ai, thì
Yavê ban ruah, Thần Khí Người, cho người ấy để thực hiện
sứ mệnh: Thiên Chúa ở với Môsê (x. Xh 3:10-12),
và ông truyền Thần Khí cho Giôsuê (x. Ðnl 34:9);
nhờ Thần Khí các lãnh tụ đạt được thành tựu
trong sứ mệnh; thí dụ: Gêđêôn (x. Tl 6:34), Gíptác
(x. Tl 11:29), hoặc Samson (x. Tl 14:6; 15:14). Nơi các tiên
tri, Thần Khí linh hứng lời nói (x. Dcr 7:12; Nh
9:30). Tột đỉnh là trường
hợp Ðấng Thiên sai: Ngài được đầy Thần Khí (x.
Is 61:1; Lc 4:18) “để làm sáng tỏ công lý trước
muôn dân” (Is 42:1). Và Thiên Chúa đã hứa đổ
tràn Thần Khí Người trên hết thảy người phàm,
cho họ có khả năng nói tiên tri… (x. Ge 3:1-3). Trong thời
đại thiên sai, lời hứa ấy được ứng nghiệm.
Phúc âm Luca (chương 1-2) trình tả sự việc nhiều
nhân vật lên tiếng phát biểu
bởi nhận được đầy Thần Khí. Chính Ðấng
Mêsia cũng đã nhận Thần Khí cách hữu hình ở
sông Giorđan để khai mạc tác vụ rao giảng: Thần Khí
‘sai’ Ðức Kitô công bố Tin mừng (x. Lc 4:18-19),
và Ngài hứa ban Thần Khí cho các môn đồ để
giúp họ làm chứng trước toà dân ngoại (x. Mt
10:20), cũng như để rao giảng cho muôn dân, bắt đầu
từ Girêrusalem (x. Lc 24:47). Ðể có khả năng chu
toàn sứ vụ, Thần Khí biến họ trở nên con
người
mới nhờ “phép rửa
trong Thần Khí” (Cv
1:5). “Trong ngày
lễ Ngũ Tuần, Ngài đã ngự xuống trên các Tông
đồ để mãi mãi ở lại với họ: Giáo hội công
khai xuất hiện trước mặt dân chúng; Phúc âm bắt
đầu được phổ biến giữa muôn dân” (TG 4). Việc
đổ tràn Thần Khí trong ngày Hiện xuống quan trọng
đến nỗi
Gioan quan niệm sự hiện
diện của Thần Khí trước Phục sinh (hoặc ngoài Giáo hội)
như chưa có gì (x. Ga 7:39). Thần Khí làm cho Giáo hội
sinh ra như một “nhà truyền giáo”; vì thế,
Ánh
Sáng Muôn Dân 17 nói rằng Thần Khí “thúc bách
Giáo hội phải cộng tác với Ngài”
(ad
cooperandum compellitur…) trong sứ vụ truyền giáo.
Vì Thần Khí luôn luôn ngụ cư trong Giáo hội, nên
các tín hữu cũng có được “cùng một tinh thần
truyền giáo” như chính Ðức Kitô! (x. TG 4). Trước Hiện
xuống, Lời Chúa đã triệu tập Giáo hội, Máu
Chúa đã cứu chuộc, nhưng tựa như chưa có “linh
hồn,” chưa được linh hoạt để làm chứng ra bên
ngoài... Thần Khí đã biến các môn đồ thành tông
đồ. Vì thiếu tinh thần truyền giáo, nhiều tín hữu
và nhiều cộng đoàn làm như đang sống trong tình
trạng trước Hiện xuống. Thần Khí làm cho Giáo hội
thành nhà truyền giáo: Giáo hội là
thánh
vì được Thánh Linh linh hoạt từ bên trong; Giáo
hội là một, vì nhờ các đoàn sủng và các thừa tác vụ
của Thần Khí hiệp thông (x. GH 7c); Giáo hội là
công
giáo, vì được Thần Khí phái gửi đến với
muôn dân, để đoàn tụ muôn dân vào trong chính
mình, và nhờ đó được nên phong phú với không
biết bao nhiêu là nền văn minh văn hóa, tiếng nói,
gia sản v.v. của muôn dân sống trong niềm hiệp nhất
của đức tin; Giáo hội là
tông
truyền, vì Thần Khí bảo toàn tinh thần, giáo lý,
thừa tác vụ và sứ mệnh của các tông đồ,
cùng làm cho trường tồn qua mọi thế hệ. Yếu tố
thúc đẩy truyền giáo, trước hết, không phải là
một nhu cầu nào đó, song là tác động của Thần
Khí hằng linh hoạt Giáo hội; từ chối truyền giáo
là phạm đến Thần Khí.
c)
Sứ mệnh của Giáo
hội.— Tiếp tục sứ mệnh của Chúa Con và là
hiện thân của sứ mệnh Thần Khí, Giáo hội “được
Thiên Chúa sai đến với muôn dân để nên ‘bí
tích cứu độ phổ quát’ theo kế hoạch của Thiên
Chúa (x. TG 1); như vậy mỗi Giáo hội địa phương
đều được sai đến trong miền xứ của mình (x. TG
20a). Mục tiêu
là thiết lập vương quyền Thiên Chúa giữa mọi
dân tộc (x. GH 5b). Thánh Phaolô cho biết là Giáo
hội đã được tiền định từ đời đời để
làm cho muôn dân nhận biết sự khôn ngoan khôn tả
của Thiên Chúa (x. Ep 3:8-11). Trên nguyên tắc, Giáo
hội có thể chu toàn tác vụ ấy theo hai cách:
hướng nội, nên “ánh sáng cho trần gian, – tựa
như – một thành xây trên núi” (Mt 5:14), để thu
hút mọi người (như Ítraen xưa); hoặc hướng ngoại,
loan báo Tin mừng cho những ai chưa biết Thiên Chúa
và Ðấng Người sai đến, cùng kêu mời họ tin
vào Người. Thế nên, lý do duy nhất vén mở cho
thấy ý nghĩa đích thực và tính cách bức bách
của công tác truyền giáo: đó là vì ý Thiên
Chúa muốn như vậy. Tiêu đích
cuối cùng của sứ mệnh này là vinh danh Thiên
Chúa; nhưng trong thời gian lịch sử, vinh danh ấy kết
tinh trong một sự kiện cụ thể, đó là giúp con
người làm “vinh quang mô thức” cho Ðức Giêsu
Kitô, Chúa của họ. Nhận biết, tin yêu, tôn thờ,
ngợi khen, v.v. Ðức Kitô là ơn Chúa Cha ban; nhưng
không một ai được thờ ơ với ơn ấy (rốt cuộc
đó là ơn được thể hiện qua cuộc nhập thể),
bởi nó trực tiếp dính liền với số phận đời
đời của mình (x. Mc 16:15). Thiên
Chúa đã chọn phương
cách để thực hiện kế hoạch: rao giảng Tin mừng.
Ðể tiếp tục sứ mệnh của mình, Ðức Kitô đã
chọn các “sứ đồ” – tức các “thừa sai”
– làm hạt giống của Giáo hội (x. TG 5). Tự bản
chất, sứ đồ phải là người “ra đi,” bằng
không
thì bội phản Ðấng
đã chọn mình cũng như bội phản chính căn tính của
mình. Vì thế Phaolô đã mạnh mẽ xác định: “Khốn
thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin mừng” (1Cr
9:16); Vaticanô II đã áp dụng câu nhắc nhở này cho
Giáo hội (x. TG 7a, GH 17, TÐ 6). Bởi mang “tông
truyền” tính, nên tự bản tính Giáo hội là “thừa
sai.” “Như thế, rõ
ràng là hoạt động truyền giáo bắt nguồn sâu xa
từ chính bản chất của Giáo hội, hoạt động qua
đó, đức tin cứu độ của Giáo hội được
truyền bá, niềm hiệp nhất công giáo của Giáo hội
đạt đến mức thành tựu nhờ được phổ cập; và đó là hoạt
động được tông truyền tính của Giáo hội trợ
lực, có sức thể hiện ý
nghĩa đoàn thể tính
của hàng giáo phẩm trong Giáo hội, chứng
thực, quảng bá cũng như cổ xúy sự thánh thiện
của Giáo hội” (TG 6f). Vì thế,
trước hết, việc truyền giáo không phải là một
“bổn phận,” song là một “chức năng” trong cơ
thể Giáo hội.
II.
NguỒn gỐc “Kitô hỌc”cỦa
SỨ vỤ
truyỀn giáo “Ðức Kitô
sinh ra là sứ vụ truyền giáo ra đời: Ðức Kitô
là vị thừa sai đầu tiên và lớn nhất của Chúa
Cha. Hoạt động truyền giáo xuất hiện khi Ngôi Lời
nhập thể, và tiếp tục trong lịch sử qua việc tuyên
bố và làm chứng của Giáo hội.”
[4]
Ðức Kitô là
nguồn gốc của sứ vụ truyền giáo vì hai lý do: vì
là
Ngôi Lời nhập thể, và vì đã
truyền lệnh cho các môn đồ đi đến khắp nơi
trong thế giới.
A.
Nhập thể có mục
đích ‘gần’ là thâu họp vạn vật dưới một
đầu là Ðức Kitô (x. Ep 1:10), và mục đích ‘tối
hậu’ là làm cho muôn loài muôn vật quy phục
quyền tối cao củaThiên Chúa (x. 1Cr
15:28).
Ðức Giêsu Kitô là động cơ của tác vụ này trong
lịch sử, theo tư thế vừa như là cứu cánh vừa
như là tác nhân, tức như trung gian của ơn cứu
độ. Là trung tâm của sứ vụ Giáo hội, Ðức
Kitô cũng đứng ở trung tâm trong cuộc tranh luận
hiện nay về sứ vụ truyền giáo.
Nếu ý thức
thực sự về mầu nhiệm Nhập thể thì không thể
nào lẩn tránh mà không kết luận là phải truyền
giáo. Kinh Tin kính công tuyên Ngôi Lời từ trời
xuống thế để cứu độ nhân loại, tức là nhằm
mục đích phổ quát. “Cả những người không minh
nhiên tin nhận Ðức Giêsu là Ðấng Cứu thế, cũng
có thể nhận được ơn cứu rỗi như là ân sủng
đến từ Chúa Giêsu Kitô, qua sự truyền đạt của
Chúa Thánh Thần.”
[5]
Không phải đến
một cách tự động, máy móc, nhưng là tùy tự do
của mỗi người mà ơn cứu độ sẽ được đón
nhận hay bị khước từ. Chính Ðức Giêsu đã chỉ
cho biết phương tiện là đức tin và phép rửa (x.
Mc 16:16; Ga 3: 5); nhưng “làm sao họ tin Ðấng họ
không được nghe? Làm sao mà nghe, nếu
không có ai rao giảng? Làm sao mà rao giảng, nếu
không được sai đi?”
(Rm 10:14-15). Nếu
hiểu rằng thần hóa là ‘lý do nhập thể’ –
nghĩa là Ngôi Hai chia sẻ chính mình và Thần Khí của
mình cho loài người, để nhờ đó hình ảnh Chúa
Cha nơi chúng ta
được khôi phục và
hoàn mỹ – thế tất mỗi
người phải gặp gỡ và kết hiệp với Ngài, để
có thể nhờ năng lực của Ngài mà đổi mới.
Nhập thể là ơn lớn nhất nhân loại nhận được;
thật ra, đó là nguồn của hết mọi ơn ban cho con
người. Và nhập thể đã xảy ra một cách không
phải là vô hình, âm thầm, mà là hiển nhiên
trong thời gian và
không gian. Ðức Kitô đến
“soi sáng những ai
ngồi nơi tăm tối và trong bóng tối tử thần” (Lc
1:79); Ngài đến như “ánh sáng soi đường cho dân
ngoại” (Lc 2:32)... nghĩa là phải đến với mọi
người ở mọi nơi, trong mọi thời: đó là điều
mà chỉ hoạt động truyền giáo mới có thể làm cho
trở thành hiện thực. Như mọi công
trình khác của Thiên Chúa, công cuộc nhập thể
cũng đang từng bước “thành sự” và không
ngừng lớn lên cho đến khi đạt “tới tầm vóc
viên mãn của Ðức Kitô” (Ep 4:13-16). “Khi nhập
thể, thì một cách nào đó, Con Thiên Chúa, đã
kết hợp với tất cả mọi người,” (MV 22b); và
bây giờ, giữa lòng lịch sử, “mầm mống” ấy
tiếp tục mọc lên, hướng tới mọi người như là
hướng về với cứu cánh, và thu nhận mọi người
vào trong thân thể của mình, tất nhiên là với
sự tôn trọng tự do của mỗi cá nhân. Vì thế, ai
ai cũng có quyền biết về Ðức Kitô và sứ điệp
của Ngài, để có thể tin theo hay không. Còn, một
khi đã biết mầu nhiệm nhập thể mà lại không
giúp người khác biết về Ðức Kitô, thì chẳng
khác chi là tước mất động lực và mục đích
của nhập thể. Thần học xác tín rằng nơi mỗi
người đều có một yếu tố siêu nhiên của Ðức
Kitô, một “hiện sinh thể” kitô
(christic
existential), làm cho mọi người, trên nguyên tắc,
đều thuộc về Ðức Kitô, và vì vậy, theo dự án
sáng tạo của Chúa Cha, bản tính con người chỉ
được toàn tất ở trong Ngài. Nhờ phục sinh,
mầu nhiệm nhập thể thành tựu sung mãn nơi cá
nhân Ðức Giêsu. Ngài trở nên con người phổ
quát, với khả năng đạt tới mỗi người trong
quá khứ cũng như trong tương lai; đó là ý nghĩa
của mầu nhiệm xuống ngục tổ tông. Mối liên đới
của Ðấng Phục sinh với mọi người (trong tình yêu
liên đới) đòi phải chia sẻ cho anh em vinh quang của
mình, chia sẻ niềm vui ‘tiệc cưới’ của mình, chia
sẻ cho tất cả những ai đầy tớ gặp thấy ở các
ngã đường, như được nói lên qua dụ ngôn... (x.
Mt 22:1tt). Sau Phục sinh,
Ðức Kitô đã trở nên “Ađam mới” (1Cr 15:22,
45-49), tổ phụ của nhân loại mới, một tổ phụ
phổ quát hơn hẳn tổ phụ cũ (x. Rm 5:16tt). Ơn công
chính hóa có khả năng vô tận; nhưng duy chỉ con cái
của Ađam mới này mới hưởng được, dù trên
nguyên tắc (theo kế hoạch Thiên Chúa) ơn ấy được
ban ra cho hết mọi con cái của Ađam cũ.
Do bởi
bản tính thần-nhân, Ðức Giêsu Kitô là
trung gian giữa Thiên
Chúa và loài người, và là trung gian duy nhất (x.
1Tm 2: 5-6). Gặp Ngài là gặp
thần-thiêng
trong dung mạo nhân-loại,
không cần phải nhờ đến một ai khác. Là trung gian
của giao ước tốt hơn, tức là mới (x. Dt 8:6; 9:15),
Ngài thiết lập Dân mới của Thiên Chúa và dẫn
đưa họ vào đất hứa thật. Như cây nho, Ngài thông
chuyển nhựa sống cho các
nhánh,
và nếu không tháp
ghép vào Ngài thì không có được sự sống (x. Ga
15:1tt). Ngài tự ví mình như cửa ra
vào (x. Ga 10:1tt): ai vào
qua Ngài thì gặp được Chúa Cha; ai không vào,
hoặc vào qua cửa
khác, thì không về tới được nhà Cha. Theo tư thế
là trung gian của Chúa Cha, Ngài thẳng thắn tuyên
bố: “Thầy là con đường, là sự thật và là
sự sống; không ai đến được với Chúa Cha mà
không qua Thầy” (Ga 14:6). Ðường sẵn có, chỉ cần
dấn bước mà đi; cửa đã sẵn mở, chỉ cần
bước qua mà vào. Trung gian mạc
khải, Ðức Kitô không chỉ nói lên Lời Chúa, mà
hơn nữa, chính Ngài là Lời Chúa (x. Ga 1:1) và, vì
thế, Ngài có khả năng làm điều không ai có thể
làm được: “Không ai đã thấy Thiên Chúa bao
giờ; nhưng Con Một, vốn là Thiên Chúa và là
Ðấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Ngài đã
tỏ cho chúng ta biết” (Ga 1:18).
Ðó là tình trạng sung
mãn mà Gioan gọi là “ơn nầy đến ơn khác” (Ga
1:16); đó là sự thật có sức và có quyền giải
phóng con người (x. Ga 8:32); đó là sự sống dồi
dào mà Chúa nhập thể chia sẻ cho các con chiên (x.
Ga 10: 10). Tuy nhiên “sự sống đời đời là họ
nhạân biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật,
và nhận biết Ðấng Cha đã sai đến, là Giêsu Kitô”
(Ga 17:3). Giờ đây, để “họ nhận biết” được
thì phải có người đi loan báo. Các tiên tri, các
sứ giả Thiên Chúa đã sai phái, đều chỉ nhận
lãnh một sứ mệnh cụ thể, giới hạn trong một
dân tộc, một thời gian v.v.; còn “Ngôi Lời là
ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian, và chiếu
soi mọi người” (Ga 1:9): sứ mệnh mạc khải phổ
quát này vẫn tiến hành qua tác vụ của Giáo hội,
với sức năng Thần Khí (x. Ga 20:21-23), để mang ánh
sáng và chân lý đến cho mọi người thuộc mọi
thời đại. Nếu không mang ánh sáng Ðức Kitô cho
muôn dân, tất Giáo hội sẽ chịu trọng tội là đem
đèn thắp sáng để dưới đáy thùng (x. Mt 5:14-16). Trung gian cứu
độ, Ðức Kitô Giêsu là nguồn duy nhất mang lại ơn
tha tội. Ðành là ơn cứu độ có thể được ban
cho cả những người không hay biết (không ý thức)
về nó; nhưng ý hiển nhiên của Chúa Cha là bất
cứ ai nhận ơn đều có thể biết về ơn mình nhận.
Tiên báo: “Một khi
được giương cao lên khỏi măït đất, tôi
sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12:32), là
Ðức Giêsu muốn ám chỉ đến hấp lực của thập
giá. Quả thế, máu của Ðấng Cứu độ được đổ
ra cho hết thảy mọi người và, vì thế, Ngài ước
mong thu hút hết mọi người vào trong “môi trường
cứu độ” là Thân thể hoặc Hiền thê của Ngài,
tức Giáo hội. Bằng không ơn cứu độ sẽ chỉ
đến với con người theo cách vô thức, không
xứng hợp với phẩm giá con người có lý trí và
tự do. Còn có thể
bàn nhiều về Ðấng “trưởng tử giữa một đàn
em đông đức” (Rm 8:29), mà Chúa Cha đã muốn đặt
“đứng hàng đầu trong mọi sự” (Cl 1:18), nhất
là trong lãnh vực tôn giáo. Nhưng chỉ xin đơn thuần
nêu lên điểm này là: vì Ngôi Lời được “sai
đi” (mầu nhiệm nhập thể) nên Ngài cũng đã gửi
Thần Khí. Nơi nào có ơn cứu độ là nơi đó có
Thần Khí hoạt động, và Thần Khí là như nước mưa
làm cho hạt giống (nhập thể) mọc lên. Thần Khí “làm
chứng” về Ðức Kitô, và đó cũng là bằng
chứng các tông đồ có bổn phận nêu cao (x. Ga
15:26-27). Vaticanô II đã nhắc đi nhắc lại điều
này: sự hiện diện của Thánh Thần là nguồn mạch
khôn tận của động lực truyền giáo (x. TG 4).
B.
Mệnh lệnh truyền giáo. Ðoạn cuối các Phúc
âm Matthêu và Máccô ghi rõ mệnh lệnh truyền giáo
của Ðấng Phục sinh: “Thầy đã được trao toàn
quyền trên trời dưới đất. Vậy, anh em hãy đi và
làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép
rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa
Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều
Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng
anh em mọi ngày cho đến tạân thế” (Mt 28:19-20).
Maccô có thêm chi tiết: “Ai tin và chịu phép rửa,
sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị
kết án” (x. Mc 16:16). Gioan cũng cho biết Chúa đã
sai các tông đồ đi (x. Ga 20:21). Còn Luca thì dù vắn
tắt nhưng cũng ghi rõ ý Chúa sai đi như trong các
Phúc âm khác (x. Lc 24:47-48, Cv 1:8). Như vậy, cả bốn
truyền thống Tin mừng đều làm
chứng về ý Ðức Kitô muốn sứ
điệp của Ngài được loan báo trong khắp thế giới
cho đến tận thế. Dù các nhà
chú giải có nêu lên
một số vấn đề liên quan đến các lời này, thì
cũng phải nhận “đó là Lời Chúa,” được
nhận vào chính lục Kinh Thánh và, vì thế, đó chính
là quy phạm. Trong toàn bộ
Kinh Thánh, các câu trên đây là những câu đã
được công đồng Vaticanô II trích dẫn nhiều nhất:
Mt 18 lần, Mc 21 lần, Ga 6 lần và Lc 7 lần, dù được
áp dụng cho nhiều chủ đề khác nhau, thì cũng với
ý nghĩa minh nhiên chỉ về truyền giáo. Như thế là
vì trong thời gian khủng hoảng, khi các động cơ khác
làm như đang bị lu mờ đi,
Giáo
hội nghĩ rằng không gì hùng hồn đối vối kitô
hữu cho bằng ý muốn rõ rệt của chính Ðức Kitô
đã được Kinh Thánh minh nhiên ghi lại (x. GH 19; HDTG
5). Giáo hội tin
rằng đặc quyền
truyền giáo của mình đâm rễ từ
quyền
toàn năng của Chúa Phục sinh. Nếu hiểu Ðức
Kitô phục sinh như là Môsê mới truyền Luật mới
cho Dân mới từ trên núi thánh vinh quang, thì mệnh
lệnh truyền giáo quả là yếu tố cấu tạo bản
chất của Hội thánh. Dù sao, điều hiển nhiên là
công tác truyền giáo là nhiệm vụ và bổn phận
của Giáo hội, vì tất yếu là phải tuân lệnh của Chúa mình (TG 1a, GH 23b, v.v.). Khoa chú giải
nghỉ rằng các lời ấy không phải là lời nguyên
văn chính Ðức Kitô đã nói, song là lời của
Giáo hội. Quả vậy: công thức rửa tội giả thiết
việc thành hình hoàn chỉnh của giáo lý về một
Thiên Chúa Ba Ngôi; nhưng điều đó
chỉ đạt được phải nói là nhiều năm sau khi Chúa
lên trời. Giả dụ lời Chúa đã sẵn có và rõ
ràng như thế, thì tại sao Giáo hội Giêrusalem lại
lên tiếng quở trách Phêrô khi ngài rửa tội cho
Cornêliô? Và tại sao Phaolô gặp phải nhiều khó
khăn như vậy? – Khó mà giải đáp được hết
các vấn nạn. Chắc hẳn là cọâng đoàn đầu tiên
khá đã phải sống qua một thời chuyển tiếp mù
mịt, khi họ cứ cố giữ “rượu mới của Phúc
âm trong bầu da cũ của Do thái giáo” (x.
Mt 9:16-17). Các biến cố xảy đến đã làm cho
họ “nhớ lại” lời Chúa, tức là nhận thức
được ý nghĩa của các cử chỉ, lời nói cũng
như thái độ, v.v. của Ðức Kitô, và đã diễn tả
“lời Chúa” thành văn rõ ràng. Ðối với tín
hữu ngày nay, nên nêu bật ba điểm: 1) Mệnh lệnh
truyền giáo là yếu tố chủ yếu trong bản chất của
Giáo hội. Ðức Giêsu tuyển chọn nhóm Mười hai
là “để sai họ đi rao giảng” (Mc 3:14); các vị là
mầm mống của Giáo hội. Trước phục sinh, họ đi
truyền bá phúc âm cho Ítraen; sau phục sinh, sứ mệnh
ấy mang thêm chiều kích phổ quát; hai sứ mệnh tiếp
nối liên tục với nhau. Khoa chú giải phát hiện
nhiều chủ đề đầy ý nghĩa của Kinh Thánh ở trong
đoạn cuối của Mt: Ðức Kitô phục sinh gợi lên
hình ảnh của Con Người gặp thấy trong Ðn 7; Giáo
hội xuất hiện như là “số sót trung thành” và
Ðức Kitô là vua thiên sai: “muôn người thuộc
mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải
phụng sự Ngài” (Ðn 7:14). Một quan điểm khác cho
rằng Ðức Kitô giống như Môsê trên núi Sinai;
những lời: “Thầy đã được trao toàn quyền…”
tương tự như: “Hỡi Ítraen, hay nghe đây!” (Ðnl
4:1; 5:1, v.v.), và vì thế mệnh lệnh truyền giáo quả
là thập giới,
là Luật
của Giáo hội. Trong Ga 20:22, Ðức Kitô “thổi hơi”
Thần Khí, tương tự như ở trong St 2:7, khi Ðức
Yahvê thổi sinh khí chuyền sức sống cho con người
đang hình thành qua hành động tạo dựng. Hiện Thần
Khí đang tiếp tục tạo nên nhân loại mới, làm
nên thời gian của Giáo hội. Vắng bóng Thần Khí
thì không thể có truyền giáo; nhưng nếu Thần Khí
hiện diện thì không thể không có truyền giáo, như
đã từng thấy rõ trong ngày Hiện xuống. Mệnh
lệnh, ý muốn của Ðấng thiết lập Giáo hội là
chính mục đích của Giáo hội; thế nên, nếu
không truyền giáo, tức Giáo hội tự phủ
nhận chính mình. 2) Lòng
vâng phục của Giáo
hội đối với Ðức Kitô cũng giống như thái độ
vâng phục của Ðức Kitô đối với Chúa Cha: vâng
phục siêu tuyệt,
tức chỉ vì yêu mến, như
môn đệ theo bước Thầy mình (x. TG 7c), chứ không
phải vì bị bó buộc giữ luật hoặc vì sợ bị
trừng phạt. Và vì thế, không chỉ vâng phục Ðức
Kitô, mà còn “vâng theo ý Chúa Cha, họ (các
thừa sai) sẽ cùng với Ðức Kitô tiếp tục sứ
mệnh của Ngài dưới quyền phẩm trật trong Giáo
hội, và sẽ cộng tác vào mầu nhiệm cứu độ”
(TG 25 cuối). Ðức vâng phục
kitô
là theo bước Ðức Kitô, và chỉ được thể hiện
qua tình yêu. Như Cha sai Con, thì Ðức Kitô cũng sai
các môn đệ, tức không phải là sai các tôi tớ,
song là các bạn hữu (x.Ga 15:15). 3) Những ai
phải vâng lệnh ấy? Phúc âm không nói rõ: Gioan
nói là “các môn đệ,” còn Mt và Mc thì chỉ
nhắc đến nhóm “mười một.”
GH
17 áp dụng
mệnh lệnh ấy cho toàn thể Giáo hội: “Theo địa vị
[hoặc khả năng] của mình, mỗi môn đệ Chúa Kitô
đều có bổn phần truyền bá đức tin.” Lý do sâu
xa là vì toàn bộ Giáo hội được xây dựng trên
móng các tông đồ và vì thế tất cả mọi thành
phần đều là “tông truyền,” đều mang tông đồ
tính, đều tham dự vào sứ mệnh của các tông
đồ, tức là được sai đi loan báo Tin mừng.
Tuy
nhiên, Vaticanô II
đã trực tiếp áp dụng mệnh lệnh truyền giáo cho
giám mục đoàn, như là cho “những người kế vị
các tông đồ” (TG 1a). TG 5 nêu rõ hai nguồn xuất
xứ của bổn phận ấy:
“do mệnh lệnh
rõ ràng đã được các Tông đồ truyền lại cho
hàng Giám mục...[và] do sự sống Ðức Kitô thông
ban cho các chi thể Ngài...” Số 6 ghi rằng: “Hàng
Giám mục... phải chu toàn nhiệm vụ” truyền bá Tin
mừng. Và rõ hơn nữa: “Mệnh lệnh qua đó Chúa
Kitô sai đi rao giảng Phúc âm cho hết thảy mọi tạo
vật, trước hết và trực tiếp nhằm tới các
Giám mục, cùng với Phêrô và dưới quyền
Phêrô” (TG 38a). Bản văn rõ nhất là GH 23c: “Chuyên
chăm rao truyền Phúc âm cho toàn thế giới là
trách vụ của đoàn thể các Chủ Chăn, bởi tất
cả các vị, trong tư cách là một tổng thể, đã
được Ðức Kitô truyền lệnh qua việc trao phó cho
một bổn phận chung, như Ðức Giáo hoàng
Cêléxtinô đã từng nhắc nhở các nghị phụ công
đồng Êphêsô.” Ðược làm thành phần giám mục
đoàn qua “bí tích truyền chức và hiệp thông phẩm
trật” (GH 22a), là được trở thành “thừa sai”;
vì thế, phong chức giám mục là “phong chức thừa
sai,” và tiến chức trực tiếp lãnh nhận sứ
mệnh này từ Chúa Kitô; do đó, ngài không phải
là “phụ tá” của Giáo hoàng.
Thừa tác vụ giám mục bao gồm nhiều khía
cạnh; truyền giáo là một yếu tố của nhiệm vụ
làm “Thầy”: “Chúa Giêsu... đã trao cho các giám
mục, là những người kế vị các tông đồ, sứ
mệnh dạy dỗ muôn dân
và rao giảng Phúc âm cho mọi tạo vật” (GH 24a).
Thừa sai số một là Ðức Giáo hoàng theo tư cách
là đầu của giám mục đoàn, “là người được
đặc biệt ủy thác nhiệm vụ cao cả, nhiệm vụ
truyền bá danh hiệu kitô hữu” (GH 23c). Còn các linh
mục thì lãnh nhận nhiệm vụ truyền giáo qua chức
thánh: “Vì là cộng sự viên của các giám mục,
nên trước tiên,
các linh mục có nhiệm vụ loan báo cho mọi
người Phúc âm của Thiên Chúa, để khi thi hành
mệnh lệnh của Chúa: ‘Các con hãy đi khắp thế
giới rao giảng Phúc âm cho mọi tạo vật’ (Mc 16:15),
các ngài thiết lập
Dân Chúa và làm cho Dân Chúa ngày càng thêm
đông số” (LM 4a; x. 10a). Cuối cùng, có
những người nhận được đoàn sủng đặc thù
để theo ơn gọi thừa sai, nhận lấy mệnh lệnh
truyền giáo làm của mình và thực thi theo một cách
thức cá nhân dưới sự hướng dẫn của Thần
Khí. Họ là “sứ giả” của Ðức Kitô và
được tham dự vào sứ mệnh của Ngài; tuy nhiên,
“họ cần phải xác tín rằng đức vâng phục là
sức mạnh đặc biệt của những thừa tác viên
của Chúa Kitô” (x. TG 24ab). Mệnh lệnh
truyền giáo không phải là một lệnh truyền riêng
rẽ, bất ngờ của Ðấng Phục sinh, nhưng là lời
công bố hồi thành tựu của sứ mạng Ngài. Ðối
với các môn đồ, đó là di ngôn của Thầy. Ðối
với kitô hữu, đó là nhân tố chủ yếu của “kitô-tính.”
Sinh thời, Ðức Giêsu đã triệu tập môn đồ,
huấn luyện và sai họ đi rao giảng (x. Mt 10), tức là
chia sẻ cho họ sứ mệnh của Ngài. Nhưng sứ mệnh trước
và sau Phục sinh thì khác nhau: trước, chỉ
được sai đến với đồng bào Do thái; sau, phải đi
khắp thế giới; trước, “Tin mừng”
có nghĩa là “Nước
Trời đã gần”;
sau, Tin mừng là
Ðức Kitô đã sống lại và những hệ quả của
sự việc ấy; trước, Ðức Giêsu làm chứng cho
Chúa Cha; sau, các tông đồ làm chứng cho Ðức
Kitô. Nhưng hai sứ mệnh (của Ðức Kitô và của
các tông đồ) tiếp liền liên tục với nhau (x. Ga
20:21). Tắt một lời, mẹânh lệnh truyền giáo là
điểm kết thúc “đương nhiên” của cuộc đời
và sứ điệp của Ðức Giêsu.
III.
NguỒn gỐc “Giáo hỘi hỌc”
cỦa sỨ vỤ truyỀn giáo Vaticanô II đưa
ra ‘luận đề’: “Tự bản chất, Giáo hội lữ
hành là Giáo hội truyền giáo, vì Giáo hội bắt
nguồn từ sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh
Thần theo ý định của Thiên Chúa Cha” (TG 2a). Giáo
hội “lữ hành” là Giáo hội như được Ánh
Sáng Muôn Dân miêu trình ở trong chương
2. Vì có mục đích là thực hiện kế hoạch cứu
độ của Thiên Chúa, nên Giáo hội mang bản chất
truyền giáo; nói cách khác, chính vì tiêu đích ấy,
Thiên Chúa đã gầy dựng Giáo hội. Bản tính của
Giáo hội xuất hiện rõ ở trong nguồn gốc (sứ
mạng của Con và Thần Khí), ở trong mục đích (thực
hiện kế hoạch Thiên Chúa), và ở trong hiện thực
(bí tích, dân Chúa, Nhiệm thể, v.v.).
a.
Như Bí
Tích Ý niệm “bí
tích” được
Ánh
Sáng Muôn Dân khai triển và áp dựng cho Giáo
hội. “Trong Chúa Kitô, Giáo hội là như bí tích
hoặc dấu chỉ và là khí cụ của mối hiệp nhất
toàn thể nhân loại…” (GH 1), là “bí tích hữu
hình của niềm hiệp nhất cứu độ” (GH 9c) cho toàn
thể nhân lại (x. GH 48, 59). Giáo lý này được cụ
thể hóa trong Sắc lệnh
về Hoạt Ðộng Truyền giáo. Sắc lệnh TG bắt
đầu: “Ðược Thiên Chúa sai đến với muôn dân
để nên ‘bí tích cứu độ phổ quát’,” tức
là nếu Giáo hội không đến với một dân nước
nào đó, thì một cách nào đó, việc cứu độ ở
nơi ấy sẽ phải chịu nhiều ít thiệt thòi. Một cách
loại suy, Giáo hội được ví với mầu nhiệm nhập
thể (x. GH 8a): dù Ngôi Lời hoạt động ở mọi nơi
mọi lúc, nhưng
“vì
loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta,
Ngài đã [phải] từ trời xuống thế,” thì
ơn cứu độ cũng đòi hỏi Giáo hội phải đến
với mọi dân tộc. Kế hoạch cứu
độ mang tính cách bí tích; nói thế có nghĩa là
Thiên Chúa muốn ban ơn vô hình một cách hữu hình;
điển hình là việc Nhập thể. Giáo hội phải truyền
giáo không những
vì
là bí tích, mà còn theo
cách
bí tích. Vì thế Giáo hội phải hiện diện hữu hình
ở mọi nơi, ít là phải cố gắng, phải hướng
tới mục đích ấy, vì Ðức Kitô đã đặt ở trong
Giáo hội “toàn bộ những phương tiện cứu độ”
(GH 14b).
Ở đây, bí tích là dấu chỉ được cấu tạo do
cộng đoàn tín hữu hiệp nhất với hàng giáo phẩm
và sống đời kitô hữu, vì là bí tích trong Ðức
Kitô và của Ðức Kitô: như ai thấy Ðức Giêsu
là thấy Chúa Cha (x. Ga 14:9), thì cũng thế, ai thấy
Giáo hội là thấy Ðức Kitô, bởi bộ mặt của
Ðức Kitô soi bóng nơi Giáo hội (x. GH 1, 15, GS 43).
“Bí tích tính” của Giáo hội phát sinh từ bí tích
nguyên thủy là Ðức Kitô; như Ngài, một phần
nào, Giáo hội cũng gồm có hai yếu tố ‘thần-nhân’
(x. GH 8a). Kết quả là dấu chỉ càng rõ thì bí tích
càng hữu hiệu: toàn thể dân Chúa càng thánh
thiện, thì sinh hoạt của
Giáo hội càng mang đậm truyền giáo tính. Theo Ga
17:21, khía cạnh tất yếu của dấu hiệu là hiệp
nhất; công đồng xác định: “Giáo hội là đoàn
chiên duy nhất của Thiên Chúa, làm dấu chỉ nêu cao
trước mặt muôn dân” (HN 2e); nếu hiệp nhất bị
sứt mẻ, thì sức hữu hiệu
của bí tích giảm sút
đi.
Trong cộng đoàn dân
Chúa,
hết thảy mọi thành
phần đều là ‘thừa tác viên’ của bí tích Giáo
hội. Mỗi kitô hữu có trách nhiệm làm dấu chỉ;
“để được vậy, Giáo hội, Mẹ hiền,
không ngừng cầu nguyện, hy vọng và hành động,
cũng như khuyến giục con cái thanh luyện và canh tân,
để ấn dấu của Chúa Kitô chiếu sáng rạng ngời
hơn trên khuôn mặt Giáo hội” (GH 15 cuối). Bí tích Giáo
hội thông ban ơn ích nào? Theo Ep 1:10, mầu nhiệm
Ðức Kitô nhằm tới việc “đưa thời gian tới
hồi viên mãn là quy tụ muôn loài trong trời đất
dưới quyền một thủ lãnh là Ðức Kitô.” Thần
Khí giúp đạt tới mục đích này qua hoạt động
truyền giáo của Giáo hội. Ơn Giáo hội mang lại là
ơn hiệp nhất, đoàn tụ toàn thể nhân loại lại
ở trong Ðức Kitô. Ðể nhận rõ hơn về điểm
này, xin lưu ý cách riêng đến hai ‘đặc tính’
duy
nhất và
công giáo của Hội thánh. Mọi
dân tộc đều “được
mời
gọi vào chung sống trong
niềm hiệp nhất công giáo của Dân Thiên Chúa” (GH
13d, GHÐP 25, TG 22). Trong thế giới hiện nay, đang thấy
có khuynh hướng nghiêng về với hợp nhất; có
thể coi đó như là ơn Thần Khí thúc đẩy loài
người trở nên một. Trong đà hướng ấy Giáo
hội có một vai trò đặc thù, đóng giữ qua tác
vụ truyền giáo. Mục đích là làm cho mọi người,
thuộc mọi chủng tộc, mọi ngôn ngữ, mọi nền văn
hóa, v.v., trở thành dân duy nhất của Chúa, tuyên
xưng cùng một đức tin, tham dự cùng một bàn tiệc
thánh trong cùng một Giáo hội. Khi ấy “niềm viên
mãn của Ðức Kitô” được thành tựu: trọn vẹn
trong hồi cánh chung, nhưng trong lịch sử, cũng đang
từng bước hình thành qua việc truyền giáo. Hiển nhiên:
tác vụ truyền giáo phát xuất từ công giáo tính
như là từ nguồn cội. “Công giáo”
(Hylap: kath'olou=katholiké)
có nghĩa là toàn diện (trong lãnh vực đức tin, cơ
cấu, v.v.) và, nhất là từ thánh Âugutinô trở
về sau, còn mang ý nghĩa chỉ về “toàn cầu.”
Trước hết, Giáo hội hiệp thông
toàn
diện với Ðức Kitô, rồi tuyên xưng cùng
truyền bá toàn diện
đức tin, và phổ biến rộng rãi phương tiện cứu
độ cho toàn cầu.
Dù chỉ là “đàn chiên nhỏ bé” nhưng lại mang
sẵn trong mình một năng động phổ quát: “Sáng
chói nơi dân Thiên Chúa,
phổ quát tính này là ân huệ chính Thiên Chúa
ban, nhờ đó Giáo hội Công giáo có khả năng để
hằng không ngừng và bằng phương cách hữu hiệu,
ra sức qui tập toàn thể nhân loại cùng với
những gì tốt lành nơi loài người về dưới một
Thủ Lãnh là Ðức Kitô, trong niềm hiệp nhất với
Chúa Thánh Thần” (GH 13b; x. RM 85). Phổ quát hay công
giáo cũng có nghĩa là phong phú và khác biệt trong
hiệp nhất. ‘Ngôi Lời tạo hóa’ đã sáng tác
nên không biết bao nhiêu là đặc tính cao đẹp và
đã phân phát cho hết mọi dân tộc, thì ‘Ngôi
Lời cứu chuộc’ cũng muốn nhờ Giáo hội quy tập
hết mọi giá trị ấy vào trong Thân Thể của Ngài.
Thế nên, Giáo hội có sứ mệnh điều hợp, vào
trong niềm hiệp thông của dân Thiên Chúa, hết mọi
nét đặc dị của muôn dân; đăïc tính của bất
cứ dân tộc nào cũng phải được coi như là lời
mời gọi Giáo hội mở rộng lòng đón nhận nó cho
Thiên Chúa. Kế hoạch này tiếp diễn suốt trong
thời gian lich sử; vì thế, “đối với các cá
nhân, các đoàn thể hay dân tộc, Giáo hội chỉ
liên hệ và thấm nhập từng bước, và như thế,
từ từ thu nhận họ vào trong niềm sung mãn công
giáo” (TG 6b). Nói cách khác, công tác truyền giáo
lấp đầy quãng trống giữa phổ quát tính
cứ
luật (cái phải có) và phổ quát tính
cứ
thực (sự kiện). Ý thức về ‘quãng trống’
ấy mà vẫn không ra tay truyền giáo là mâu thuẫn.
Ðức Piô XII xác quyết: “Tinh thần công giáo và
tinh thần truyền giáo chỉ là một” (Fidei
Donum, 44). “Vì
thế, tất cả con cái Giáo hội phải biết ý thức
sắc bén về trách nhiệm của mình đối với thế
giới, phải lo hun đúc cho mình có được tinh thần
thực sự công giáo, và phải hăng say góp sức cho
công cuộc rao giảng Phúc âm” (TG 36b).
b.
Giáo Hội là một thực thể đang lớn lên Giáo hội là
một cơ thể sống động và vì thế, cần phải triển
phát. Ðể miêu tả khía cạnh này của mầu nhiệm
Giáo hội, Vaticanô II đã dùng đến một số ẩn
dụ, như đọc thấy ở trong các số 5-7 của Hiến
chế GH. Xin được vắn tắt bàn đến như sau: 1)
Nước Thiên Chúa.— Chính Ðức Giêsu đã giảng
về Nước Trời và đã khai mạc thực tại này nơi
trần thế (x. Mc 1:15). Còn giữa lòng lịch sử loài
người, “Giáo hội đã lãnh nhận sứ mệnh rao
truyền
và thiết lập Nước
Chúa Kitô và Nước Thiên Chúa nơi mọi dân tộc”
(GH 5b). Ðối với Nước Thiên Chúa, Giáo hội cầm
mình là như thế nào? Trước hết, như là mầm mống
của Nước Trời, và thứ đến, như là tôi tớ
của Nước ấy. Thần học cho rằng: “Giáo hội là
Nước Trời đang hiện diện một cách nhiệm mầu”
(GH 3), bởi trong đó, mọi thành phần đều minh nhiên
tin nhận “Ðức Kitô là Chúa.”
Mặt khác, là thực
tại cánh chung, Nước Thiên Chúa sẽ chỉ trọn vẹn
hoàn tất lúc Chúa trở lại (x. GH 5b, 9b, MV 39c). Trong tư thế
là tôi tớ Nước Trời, Giáo hội đóng giữ một
vai trò quan trọng, bởi Chúa đã trao phó “chìa
khóa Nước Trời” cho mục tử phổ quát (x. Mt
16:19), quyền “trói buộc và tháo cởi” ở đời
này cũng như đời sau cho các mục tử (x. Mt 18:18).
Trách nhiệm ấy xuất hiện, trước hết, ở nơi
những thực tại cấu thành của chính Giáo hội; về
các thực tại cấu thành ấy, xin đan cử hai thí
dụ; một là gia đình: được thánh hóa qua bí tích
để sống trong tin yêu cửa Ðức Kitô, “gia đình
kitô
lớn tiếng loan truyền
sức mạnh của
Nước Thiên Chúa và
niềm cậy trông vào một đời sống hạnh phúc”
(GH 35c); hai là
đời sống tu trì: đó là bằng chứng hết sức
hùng hồn của việc từ bỏ mọi sự trần thế để
làm chứng cho giá trị vô song của Nước Trời (x.
GH 44).
Như vậy, trong đời
sống Giáo hội, Nước Trời như đang trong thời thai
nghén. Như người mẹ ngóng chờ con trong dạ chào
đời, Giáo hội cũng không ngớt khẩn cầu: “Lạy
Chúa Giêsu, xin ngự đến!” (Kh 22: 20), “Xin cho
Nước Cha trị đến!” Ðấy là đối tượng cơ bản
của lời cầu kitô. Nước Trời
cũng phải lớn lên. Những người dự tiệc với
các tổ phụ sẽ từ phương đông phương tây mà
đến (x. Mt 8:11); nhưng nếu các tôi tớ của Chúa
đã không đi mời, thì chẳng ai tới (x. Mt 22:10).
Ðó chính là tác vụ rao giảng Tin mừng của tất
cả; vì vậy, Vaticanô II khuyên là phải “tập trung
năng lực mọi tín hữu lại, để dân Chúa dấn
bước trên đường chật hẹp của thập giá mà
mở rộng Nước Ðức Kitô, là Chúa, Ðấng thấu
suốt muôn thế hệ, và dọn đường chờ Ngài đến”
(TG 1cuối). Ðã là hạt
giống tất phải mọc lên, lớn lên, bằng không thì
trở thành vô ích và mất đi lý do tồn tại. Cũng
vậy đối với Giáo hội là “mầm mống Nước
Trời.”
Mầm mống ấy
mọc lên trong hai cách. Cách thứ
nhất là “nảy mầm,” tức mọc lên gần như tự
động nhờ ẩn lực của Thần Khí (x. Mc 4:26-29).
Ðời sống thánh thiện của các tín hữu có ảnh
hưởng tích cực đến bước tiến phát của Nước
Chúa, còn tội lỗi trong Giáo hội thì làm cho “Nước
Chúa phải chùn bước trên đà phát triển” (HN
4f). Cộng đoàn kitô tác dụng như men trong bột (x. Mt 13:33),
với sứ vụ “đổi
mới xã hội loài người hầu biến thành gia đình
của Thiên Chúa” (MV 40b). Cách thứ hai
là loan báo Nước Chúa nhờ đoàn sủng tiên tri
trong Giáo hội: “Chúa Kitô, vị Ðại Ngôn Sứ, ...
hằng thi hành chức vụ ngôn sứ cho đến hồi vinh
quang Ngài lộ hiện trọn vẹn, không những nhờ
hàng giáo phẩm, ... mà còn nhờ các giáo dân, là
những người được Ngài đặt làm chứng nhân
và ban cho cảm thức đức tin cùng ơn ngôn từ để
qua đó, sức mạnh của Phúc âm sáng rực lên trong đời
sống thường nhật, trong gia đình và giữa xã hội”
(GH 35a). Rao giảng Tin mừng theo dạng này bao gồm hết
mọi nỗ lực nhằm phổ biến những giá trị của
Phúc âm, chẳng hạn như: công bằng, tình huynh đệ,
hòa bình, hòa giải, tha thứ, tương trợ, v. v.; một
xã hội nhân đạo hơn thì cũng gần Nước Trời
hơn. Dĩ nhiên là chỉ nhắm tới những tiến bộ vật
chất không thôi thì chưa đủ; công đồng xác định
rõ: “Giáo hội nhằm một mục đích duy nhất là
làm cho Nước Chúa trị đến và toàn thể nhân
loại được cứu rỗi” (MV 45a). Mà chẳng có ai
được cứu rỗi một cách tự động; những kẻ
bất chính sẽ không được Nước Thiên Chúa làm
cơ nghiệp; những kẻ dâm đãng, trụy lạc, kê gian,
trộm cướp, tham lam, v.v. sẽ không vào được
Nước Trời (x. 1Cr 6:9-10). Chính Ðức Giêsu đã
đích thân cảnh báo cho đồng bào và các môn đồ
Ngài biết là phải vào cửa hẹp (x. Lc 13:24). Giáo
hội cũng có bổn phận báo trước về điểm này,
kẻo nhiều người phải lỡ bước sa chân. 2)
Thân thể Ðức Kitô.—
Vaticanô II trình bày
giáo lý về Giáo hội
“thân thể Ðức Kitô” trong Hiến chế Ánh Sáng
Muôn Dân (số 7), theo trình tự các nhà chú
giải đề ra. Trong 1Cr và Rm, Phaolô khai triển ý
tưởng về thực kiện các kitô hữu làm thành
một thân thể; rồi
trong Ep và Cl, tác giả quan niệm Giáo hội như là
thân thể của Ðức
Kitô và chính Ngài là
Ðầu. Trong thông
điệp Mystici corporis
(1943), Ðức Piô XII đã gọi Giáo hội Công giáo
là
Nhiệm Thể Ðức Kitô. Còn Vaticanô II thì xác định
cho thấy rõ là “Nhiệm Thể ấy
tồn
tại trong Giáo hội Công giáo” (GH 8b). Phương
thế để trở nên chi thể Chúa Kitô là phép Thánh
Tẩy, bỏi bí tích này làm cho tín hữu hiệp thông
với sự chết và sống lại của Ðức Kitô (x. Rm
6:4-5) và với Thần Khí (x. Mc 1:8, Cv 1:5; Ga 3:5). Mối
hiệp thông này đạt tới cực điểm với “Phép
Thánh thể là nguồn mạch và tuyệt đỉnh của toàn
thể công việc rao giảng Tin mừng” (LM 5b). Nếu kitô hữu
có nhận được ân huệ nào thì chính vì là chi
thể của Ðức Kitô, và để mưu ích chung cho toàn
thể. Và nếu mọi “ân huệ đều là tác vụ” thì
huống chi là những đoàn sủng; vì vậy, cứ xem ơn
nhận được thì sẽ biết Chúa muốn mỗi người
làm gì. Nhiệm vụ số một của chi thể là làm cho
thân thể lành mạnh và lớn lên. Theo các
thư Êphêsô và
Côlôxê, Ðức Kitô là Ðầu của Hội thánh. Là
Ađam mới, Ngài là nguồn sự sống, hiệp thông và
liên đới của nhân loại mới. Trích dẫn thánh
Tôma, Vaticanô II dạy rằng “nếu ai không hiệp nhất
với nhiệm thể thì không thể có ơn cứu rỗi” (GH
26a). Ðó cũng là lý do tại sao công đồng nhấn
mạnh
đến điểm này: “Cần
phải làm sao để tất cả những ai đã một cách
nào đó, thuộc về Dân Thiên Chúa, được gia nhập
trọn vẹn vào thân thể duy nhất của Ðức Kitô ở
trần gian” (HN 3e). Ðàng khác, vì Giáo hội
là thân thể Ðức Kitô, nên cũng
mang đặc tính của Ðầu, tức làm “con người cho
người khác,” làm “tôi tớ muôn loài,” v.v.
Ðức Kitô nhận được sự sung mãn không chỉ để
cho mình thôi mà còn để chia sẻ cho đàn em của
mình: Ngài sống chết cho người khác, Ngài tự ban
mình cho người khác, vì Ngài là hiện thân tình
yêu phổ quát của Chúa Cha. Vì Ðức Kitô là Ðầu,
nên Giáo hội là “pháp nhân phổ quát” đang
(phải) lớn lên cho đến khi đạt đến mức sung mãn
của Chúa (x. Ep 1:23; 4: 12-16). Trung tâm của Giáo hội
không phải là chính Giáo hội, nhưng là Ðức
Kitô;
mà đường dẫn đến
với Ðức Kitô thì đi ngang qua muôn loài. Và, đặc tính
của Giáo hội không phải là thu thập, song là phân
phát, phân phát tất cả những gì mình có: Tin
mừng, phương thế cứu độ, Ðức Kitô, chính mình
như một cộng đồng huynh đệ phổ quát. Thân thể lớn
lên theo hai mặt, đối nội và đối ngoại, tức là
trong thánh thiện và trong con số chi thể.
[6]
Vì sự sống chỉ
là một, nên lịch sử cho thấy là những thời
nhiệt huyết truyền giáo dâng cao cũng là lúc Giáo
hội có nhiều nhất những con cái, những cộng
đoàn thánh thiện siêu quần, và trái lại, khi đà
truyền giáo giảm sút, thì cuộc sống đạo cũng
nhạt nhẽo đi. 3)
Những hình ảnh khác.— Hiến chế
Ánh Sáng Muôn Dân
đề cập đến các hình ảnh này trong số 6, vì
liên quan với Nước Thiên Chúa (số 5) hơn là với
Nhiệm thể (số 7). Giáo hội
được ví như
đàn
chiên và chuồng chiên (x. Ga 10:1-16); xưa kia, các
tiên tri cũng đã dùng hình ảnh này để nói về
Ítraen (x. Is 40:11, Ed 34:11v.v.). Ðức Giêsu đã nhắc
đến “những chiên khác không thuộc ràn này,”
mà Ngài “phải đưa chúng về” (Ga 10:16). Vì là
người chăn chiên lành, nên Ngài sẵn sàng để
cả đàn chiên 99 con ở trên núi mà đi tìm một con
chiên lạc (x. Mt 18:12). Dụ ngôn này chỉ cho Giáo hội
thấy cần phải đặt ưu tiên mục vụ ở điểm nào. Như
thửa ruộng, Giáo hội phải mang lại hoa lợi. Cũng
có thể nghĩ đến vườn nho (x. Mt 21:33-4) hoặc là
cây nho (x. Ga 15:1-5); dù sao thì Chúa cũng đòi phải
mang lại hoa trái dồi dào. Trong dụ ngôn “người
gieo giống” và “cỏ lùng” (x. Mt 13:1tt), Ðức
Giêsu giải thích cho thấy “ruộng là thế gian,” nơi
phải gieo lời Chúa. Sẽ có người đón nhận lời
và có kẻ từ chối, sẽ có hoa quả tốt hay xấu,
nhưng nhiệm vụ của các tôi tớ là phải gieo “hạt
giống lời Chúa” để Giáo hội đâm rễ ở khắp
nơi (x. TG 6c). “Trong cánh đồng này đã từng mọc
lên cây dầu cổ thụ” (GH 6c): câu này ám chỉ
đến tông đồ Phaolô với công trình to lớn (x. Rm
11), do việc làm cho dân ngoại được ghép vào cây
Ítraen và sống nhờ nhựa của nó. Phaolô rất buồn
vì đa số trong dân Ítraen “cứng lòng” không tin
vào Ðức Kitô; nhưng ngài đã được biết về
mầu nhiệm này là khi “các dân ngoại gia nhập
đầy đủ,” thì “toàn thể Ítraen sẽ được cứu
độ.” Thế nên, công tác truyền giáo
là việc làm cần thiết để đạt tiêu đích
kia, là làm cho các lời hứa của Cựu Ước về
dân Do thái được ứng nghiệm trong Ðức Kitô qua
Giáo hội. Giáo hội cũng
được gọi là
tòa
nhà của Thiên Chúa, nghĩa là các tông đồ lấy
những “hòn đá sống động” là các tín hữu (x.
1Pr 2:5) mà làm cho “toàn bộ công trình xây dựng
ăn khớp với nhau và vươn lên thành ngôi đền
thánh trong Chúa Kitô” (Ep 2:21). Như thế, kế hoạch
Thiên Chúa thành tựu với việc thu tập toàn thể
loài người vào trong một gia đình tư tế hầu cử
hành phụng vụ
hiện sinh là dâng hiến
trọn cả cuộc đời cho Chúa. Trong công trình xây
dựng này, các cơ cấu của Giáo hội giữ vai trò
tựa như giàn giáo, vừa giúp xây cất vừa che
phủ mặt nhà. Dù có nhiệm vụ khác nhau, nhưng trong
Giáo hội tất cả mọi người “đều bình đẳng về phương diện
phẩm giá và hoạt động chung để xây dựng thân
thể Chúa Kitô” (GH 32c, x. TÐ 25a). Tựu trung, dù
có quan niệm Giáo hội theo hình ảnh nào đi nữa,
thì mọi thành phần dân Chúa cũng phải ý thức
rõ về trách nhiệm của mình là góp phần làm cho
Giáo hội ngày càng tăng triển rộng lớn thêm
lên, ngõ hầu đón nhận mọi người vào gia đình
của Chúa Cha trong Ðức Kitô. 4)
Thời gian của Giáo hội: chiều kích cánh chung của công
tác truyền giáo.— Sống giữa lòng lịch sử,
tất Giáo hội phải triển phát. Vaticanô II giải
thích về điểm này ở trong TG 9: “Thời gian
hoạt động truyền giáo
là thời
gian ở giữa hai
lần
Chúa đến... Thực
vậy, trước khi Chúa trở lại, Phúc âm phải
được rao giảng cho mọi dân tộc.” Về phương diện
này, công việc truyền giáo là tác vụ gấp rút,
vì “thời gian chẳng còn bao lâu nữa” (1Cr 7:29).
Công trình truyền giáo bắt đầu từ ngày Hiện
xuống, khi Thần Khí khai mạc “thời cuối cùng.”
Thần học coi khoảng thời gian giữa biến cố nhập
thể và hồi quang lâm, là thời gian “làm chứng
về Thầy Giêsu... cho đến tận cùng trái đất” (Cv
1:8). “Giáo hội đã lãnh nhận sứ mệnh rao truyền
và thiết lập Nước Chúa Kitô và Nước Thiên
Chúa giữa lòng mọi dân tộc. Giáo hội là mầm
mống và là khai nguyên của Nước ấy trên trần
gian. Trong khi đang từng bước triển phát, Giáo hội
hằng mỏi mong cho Nước ấy chóng thành tựu, và tận tình vọng
trông cùng thiết tha nguyện ước cho được kết
hợp với Vua mình trong vinh quang” (GH 5b). Việc truyền
giáo mang lại ý nghĩa cho lịch sử Giáo hội, và vì
thế, cho cả lịch sử loài người nữa, bởi Giáo
hội là phương thế Thiên Chúa đã chọn để nhờ
đó, nhân loại đạt tới mục đích của mình, là
trở nên thân thể Ðức Kitô trong Thần Khí. Khi
trở lại, Chúa sẽ “được
ngưỡng mộ giữa mọi kẻ đã tin” vào lời
chứng của các tông đồ (x. 2Ts 1:10), và đó là hoa
quả của hoạt động truyền giáo. Nếu Chúa trì hoãn
thì chính là để Giáo hội có đủ thì giờ hoàn
tất sứ vụ. Bữa tiệc Tạ
ơn phải được cử hành để “loan truyền Chúa
đã chịu chết và tuyên xưng Chúa đã sống lại cho
tới khi Chúa lại đến,” ngõ hầu lúc ấy vẫn có
những tôi trung đang tỉnh thức (x. Lc 12:37, 1Ts
5:10).
Vì vậy,
Giáo hội ra sức thành
lập những cộng đoàn Tạ ơn ở khắp nơi. Và nhất
là vì chính Ðức Giêsu đã nhắn
nhủ “phải rao giảng
Tin mừng cho mọi dân tộc” trước ngày ấy (x. Mc
13:10; Mt 24:14); đến nỗi có tác giả nghĩ rằng
truyền giáo rộng ra khắp nơi là “điều kiện”
để Chúa trở lại.
[7]
Dù ý kiến này
quá đáng, thì cũng một chắc chắn là có một quan
hệ mật thiết giữa công tác truyền giáo và hồi
Chúa quang lâm. Khi rao giảng ở Giêrusalem, thánh
Phêrô đã khuyên
đồng bào mình sám
hối và trở lại “để rồi (hópos
àn) thời kỳ an lạc sẽ đến” (x. Cv 3: 20), và
trong 2Pr 3:12, tác giả nhắn nhủ các độc giả lo
sống đạo đức và thánh thiện “để cho ngày đó
mau đến.” Việc truyền giáo làm
cho
ngày
càng có thêm đông số những người tin nhận
Ðức Kitô để cùng thiết tha khẩn nguyện: “Nước
Cha trị đến!” Trong hậu cảnh
cánh chung, Vaticanô II khai triển chủ đề “Dân
Thiên sai” (GH 9b), tức Giáo hội đang mang niềm hy
vọng của nhân loại tiến về tương lai tuyệt đối.
Sứ vụ chủ yếu của Dân thiên sai trong lịch sử
là rao truyền Tin mừng: “Cứu cánh của dân thiên sai
là Nước Thiên Chúa đã được chính Thiên Chúa
khai sáng nơi trần thế,
và phải quảng triển
cho tới khi được chính Người hoàn tất trong hồi
thế mạt, lúc Ðức Kitô, sự sống của chúng ta,
hiện đến... dân thiên sai ấy được Ngài dùng
làm khí cụ cứu độ cho mọi người và được sai
đi khắp cõi thế làm ánh sáng trần gian và muối
đất” (GH 9b). “Thiên sai” tức là được xức
dầu để thông dự vào những đoàn sủng của
Ðấng Xức dầu (= “kitô”), đặc biệt là đoàn
sủng tư tế và tiên tri (x. GH 10, 12), khiến họ có
được khả năng và nhiệm vụ làm chứng cho Lời
và truyền bá Phúc âm (x. GH 35). Vì Thiên Chúa mời
mọi người gia nhập Dân này, nên Giáo hội phải
hiện diện ở mọi nơi (x. GH 13). Hơn nữa, vì Thiên
Chúa muốn Giáo hội làm khí cụ thiết yếu trong kế
hoạch cứu độ (x. GH 14), cho nên Giáo hội phải mở
rộng cửa cho mọi người vào. Bởi mang bản chất
năng động, dân thiên sai cũng sống thân phận lữ
hành, đang trên đường đi về quê Trời (x. GH 14a,
48c, MK 7b), và trong khi vất vả tiến bước giữa
dòng lịch sử loài người như thế, dân thiên sai vẫn
không
ngừng mở rộng cánh
cửa cứu độ.
Ðó là điểm đặc
biệt quan trọng, bởi nó nhắc cho người kitô nhớ
rõ mình có bổn phận cổ võ
niềm hy vọng kitô giữa một xã hội không biết ý
thức về tương lai vinh hiển Thiên Chúa đã dọn cho
mọi người.
c.
Mối hiệp nhất trong
Hội thánh và công việc truyền giáo Quan hệ giữa
hiệp nhất và truyền giáo mật thiết đến độ khó
có thể bàn đến một phần mà không nói đến
phần kia. Quả thế, chính Ðức Giêsu đã cầu nguyện
cho hết thảy những ai tin vào Ngài được trở nên
một “để thế gian tin...” (Ga 17:18-21). Không có
hiệp nhất thì sứ mệnh của Giáo hội sẽ thất
bại. Vaticanô II ý thức rõ về điểm này khi nhận
định ở trong lời tựa của sắc lệnh
Ðại
Kết, nói rằng chia rẽ “phương hại đến công
cuộc rất thánh thiện là rao giảng Phúc âm cho mọi
tạo vật” (HN 1a). Sắc lệnh
Hoạt
Ðộng Truyền Giáo cũng nhấn mạnh
rằng các kitô hữu phải trở nên một
vì cần phải truyền giáo và cùng nhau làm chứng cho
Ðức Kitô (x. TG 6f), và vì thế, “cũng cần phải
nuôi dưỡng tinh thần đại kết nơi các tân tòng,
để họ nhận thức chính xác được rằng bất cứ
anh chị em nào đã tin vào Chúa Kitô thì đều là
môn đồ của Ngài” (TG 15e). Như thế, rõ ràng là
hiệp nhất cần thiết cho truyền giáo; nhưng, mặt
khác, không nên quên rằng công tác truyền giáo
cũng cần thiết để hiệp nhất thành tựu. Quả
thế, lịch sử cho thấy chính phong trào truyền giáo
bên phía Tin lành đã đưa đến việc hình thành phong
trào đại kết. Tuy nhiên, trong quá khứ cũng như
hiện nay tại một số nơi, bởi không được tiến
hành cho đúng, nên hoạt động truyền giáo quả đã
gây hại cho sự hiệp nhất, thứ nhất, vì thái độ
cạnh tranh giữa các nhóm kitô giáo và, thứ hai,
vì định kiến cho rằng các kitô hữu khác là đối
tượng của hoạt động
truyền giáo mình
theo đuổi.
Tài liệu
Giáo
hội tại Châu Á,
số
30, viết: “Ðối thoại đại kết là một thách đố
và là một tiếng gọi trở lại, đối với toàn
thể Giáo Hội, cách riêng đối với Giáo Hội tại
Châu Á, nơi mà dân chúng đang trông đợi người
kitô thể hiện một dấu chứng rõ hơn về sự hợp
nhất.” Có dấn thân truyền giáo thực sự và
đúng đắn thì các Giáo hội mới đáng nhận
được ơn hiệp nhất.
IV.
công CuỘc TruyỀn giáo và con ngưỜi “Hoạt động
truyền giáo cũng có liên hệ chặt chẽ với chính
bản tính và những ước vọng của con người” (TG
8a). Nếu công việc truyền giáo là khí cụ trong kế
hoạch Thiên Chúa ấn định, thì không thể không có
tác dụng đến chính bản thân và đời sống cụ
thể của con người. Công ích số
một của một xã hội và của nhân loại là hòa
bình. Ðức tin cho biết rằng hòa bình là ơn Chúa
ban, và nguồn cội hòa bình là Ðức Kitô. Thư
Ephêsô giải thích: “Ngài là bình an của chúng
ta... Ngài đã hy sinh thân mình để phá đổ bức
tường ngăn cách là sự thù ghét... Nhờ thập
giá, Ngài đã làm cho đôi bên được hòa giải
với Thiên Chúa trong một thân thể duy nhất; trên
thập giá, Ngài đã tiêu diệt sự thù ghét. Ngài
đã đến loan Tin mừng bình an:
bình an cho anh em là những kẻ ở xa, và bình an cho
những kẻ ở gần” (Ep 2:14-18). Vì thế, làm cho
mọi người nhận biết và theo gót Ðức Kitô là
làm cho họ được sống an bình. Ngoài
ra, công ích thường được quan niệm và theo đuổi
cách khác nhau tùy theo vũ trụ quan sẵn có. Kitô
giáo công hiến một vũ trụ quan mới: vũ trụ quan
này đã giúp nhân loại ý thức về phẩm giá của
nhân vị (nhân quyền) cùng ý nghĩa của lịch sử và
của muôn vật (đó là điểm đã tác động trên
khoa học hiện đại).
Rồi dĩ nhiên và hơn
nữa còn có những lợi ích vĩnh cửu. Truyền thống
đã quan niệm kế hoạch Thiên Chúa theo hai phương
diện: tạo hóa và thánh hóa, hoặc tiến bộ vật
chất và tiến bộ thiêng liêng. Sách Sáng thế cho
thấy rằng tội lỗi con người gây hại cho cả xã
hội loài người lẫn thiên nhiên (x. St 3: 16tt; Rm
8:19tt); vì thế, mọi hoạt động nhằm vào việc tiêu
trừ tội lỗi ắt phải có ảnh hưởng tích cực
trên toàn bộ nhân loại, trên toàn bộ công trình
tạo dựng. Vaticanô II nhắc nhở rằng: “Thực ra,
trong lịch sử loài người, ngay cả về phương diện
trần thế, từng là men tự do và tiến bộ, Phúc
âm còn không ngừng tỏ ra là men huynh đệ, hiệp
nhất và hòa bình” (TG 8). Kitô giáo nêu bật giá
trị
của lao động –
chính Thiên Chúa nhập thể là một người thuộc
giới lao động! – và bổn phận hợp tác xây
dựng công ích. Một điểm khác được giáo lý
phúc âm là hết thảy mọi người đều bình đẳng,
bình quyền như nhau, không phân biệt quý phái hay
bình dân, nam hay nữ, chủng tộc hay màu da, v.v.; đó
là cơ sở chủ yếu của văn minh mới. Thực tế lịch
sử cho thấy là các thừa sai đã góp phần rất
đắc lực vào việc mở mang trong nhiều lãnh vực
văn hóa, xã hội, v.v. trong các dân tộc, nơi họ
làm việc. Lúc đầu, hoạt động truyền giáo đi
đôi với công việc giáo dục (những trường học)
và dịch vụ y tế (bệnh viện, trại phong cùi, v.v.),
cũng như mọi sáng kiến phát triển địa phương. Tại
nhiều nơi, hai nỗ lực “kitô hóa” và “văn minh
hóa” chỉ là một. Vì là thân mình của Tôi tớ
Chúa, đi đâu Giáo hội cũng ra sức phục vụ loài
người trong những nhu cầu thiết yếu. Chính
vì lý do như thế,
nên bao giờ công tác
truyền
giáo cũng cần phải
có đức bác ái làm động cơ và cùng đồng
hành. Sắc lệnh Truyền
Giáo giải thích rằng: “Sứ mệnh của Giáo hội
thành tựu do sự việc, vâng lệnh Chúa Kitô cùng
được ân sủng và tình thương Chúa Thánh Thần
thúc đẩy, Giáo hội đã thực sự và toàn diện
có mặt trước mắt mọi người và mọi dân tộc
...” (TG 5a). “Tình thương”
ấy, trước hết, là
tình thương Thiên Chúa dành cho con người (x. TG 12)
– quả vậy, đó chính là nguồn gốc tuyệt đối
của sứ mệnh – và Giáo hội phải là hiện thân
của tình thương ấy. Tình
thương này là yếu tố cấu tạo Giáo hội và, vì
thế, tựa như sự thiện (amor
[bonum] est diffusivus sui), là năng động tự chia sẻ
mình cho mọi người. Về phía Giáo hội, chính lòng
mến yêu Thiên Chúa và Chúa Kitô hằng không
ngừng thúc đẩy
Hiền
thê dốc lực tìm cách làm cho vinh quang của Chúa
mình cả sáng rạng ngời hơn. Về phía cá nhân, thì
thật khó mà hiểu được một người con của Chúa
Cha, một môn đồ của Ðức Kitô mà không ra sức
dấn thân để làm cho muôn dân nhận biết, yêu mến
và vâng theo Cha Cả trên trời và Ðấng Cứu chuộc
của mình (x. 2Cr 5:14). Giữ thái độ thờ ơ, sống
và hành động khác đi, thì thật là vô ơn bạc
nghĩa (x. TG 24-25)! Thông thường tình thương hoặc bác ái được
hiểu như là tình thương đối với nhau như Chúa
muốn. Tình thương này thúc đẩy tín hữu làm việc
cho thế giới được cứu rỗi và để xây dựng
Giáo hội (x. DT 6a). Tiêu đích tình thương nhắm tới
là lợi ích của người thương, lợi ích về mọi
phương diện: vật chất cũng như thiêng liêng, trần
thế cũng như vĩnh viễn, cá nhân cũng như thập
thể, v.v. Vaticanô II giải thích rằng: “Các chi thể
của Giáo hội phải được bác ái thúc đẩy, vì
nhờ đó, họ yêu mến Thiên Chúa và ước ao san
sẻ cho mọi người các ân huệ thiêng liêng của
đời này và đời sau” (TG 7b). Một khi đã nhận
thấy rõ quý hóa biết bao
những kho tàng to lớn mình đang được hưởng (mạc
khải, các bí tích, tử tính thần thiêng, v.v.), hẳn
người kitô sẽ nhớ ra lời Ðức Giêsu nhận
định: “Cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20:35).
Vả, kho tàng của Giáo hội không phải để giữ bo
bo một cách ích kỷ, nhưng là để, như Chúa muốn,
thông báo và truyền đạt cho mọi người. Lợi ích
số một mà việc truyền giáo nhắm tới là mang lại
ơn cứu độ, như công đồng đã lưu ý (x. GH 16
cuối). Nhu cầu thì nhiều và tại khắp nơi, tuy nhiên,
đúng như lời Ðức Piô XI nhận định: “Không ai
nghèo túng và trơ trụi, không ai bệnh nặng và
đói khát cho bằng người thiếu ơn hiểu biết Thiên
Chúa.”
[8]
Và ai không biết
Ðức Kitô thì cũng chẳng biết chính mình. Kitô
giáo coi sự thật, chân lý là giá trị hết sức
trọng đại; chẳng thế mà
Hiến
chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay
nhấn mạnh: “Dĩ nhiên là không thể nào để cho
tình bác ái và thái độ nhân hậu [đối với
đối thủ] biến chúng ta trở thành dửng dưng đối
với điều chân và sự thiện. Mà còn hơn thế,
chính tình bác ái ấy thúc bách các môn đệ Chúa
Kitô loan báo cho mọi người biết về chân lý cứu
rỗi” (MV 28b). Có bác ái thì mới có hoạt động
truyền giáo chính thực (x. TG 12). Tắt một lời, bao
lâu có bác ái trong Giáo hội thì bấy lâu sẽ có
hoạt động truyền giáo; trái lại, ngưng rao giảng Tin
mừng cho muôn dân, là dấu hiệu cho thấy rõ không
còn tình mến.
[1]
“Ecce
tria sunt: Amans et quod amatur et Amor” De Trinitate,
8.10. [2] Xin xem Irênêô, Adv. Haer. 4.11.38; 5.36. v.v. PG 7.1001s, 1105s, 1221s. [3] “Is he not, as it were, the God-Missionary of the Father... herald of the good news, divine Ambassador…” AAS 32 (1940) 425. [4] Sứ điệp của Ðức Gioan Phaolô II nhân dịp “Chúa nhật Truyền giáo” năm 2000. Về chủ đề này xin xem Giáo hội tại Châu Á, chương 2. [5] Giáo hội tại Châu Á, số 14. [6] Vaticanô II đề cập đến việc Thân thể phải lớn lên, trong nhiều đoạn viết: xin xem chẳng hạn GH 7, 8, 18, 30, 43...; TG 5, 7, 8, 36...; HN 24; GD 2; TÐ 2; v.v. [7] Xin xem chẳng hạn Oscar Cullmann, “Le caractère eschatologique du devoir missionaire et la conscience apostolique de saint Paul,” Revue d’Histoire et de Philosophie Religieuse 16 (1936) 210-245; phía Tin lành thường khai triển nhiều về chủ đề này: xin xem chẳng hạn Jim Montgomery, Then the end will come: great news about the great commission, Pasadena: W.Carey Libr. 1997. [8] Rerum Ecclesiae, AAS 18 (1926) 72.
|